Một số đặc điểm lớn của thị trường EU
I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LỚN CỦA THỊ TRƯỜNG EU
- EU bao gồm 15 thành viên Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, Ai Len, Lucxambua, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh.
- EU là thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam. Điều này được thể hiện ở chỗ EU là một trong những thị trường tiêu thụ lớn trên thế giới, có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hoá, nhu cầu nhập khẩu hàng năm của EU về những mặt hàng chủ lực của Việt Nam rất lớn và chính sách thương mại của EU đối với Việt Nam đang dần được hoàn thiện. Hơn nữa, EU là khu vực phát triển kinh tế khá ổn định trên thế giới, cũng với sự ra đời của đồng Euro, vị thế của EU ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Tại thời điểm này, Việt Nam đang thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu. Do vậy, thị trường EU là nơi để các nhà xuất khẩu Việt Nam thể hiện sức mạnh của mình. Dù cơ hội xuất khẩu sang thị trường EU của các doanh nghiệp Việt Nam rất lớn, những để xâm nhập và chiến lĩnh được thị trường này các nhà xuất khẩu Việt Nam cần phải nắm được các đặc điểm sau:
- Thứ nhất: EU thương lượng với các nước như thực thể đồng nhất trong các vấn đề thương mại toàn cầu và trở thành tiếng nói chung của Châu Âu trong các cuộc thảo luận quốc tế. Các doanh nghiệp làm ăn ở Châu Âu tất nhiên phải tuân theo các quy tắc, hướng dẫn và chịu sự giám sát của Uỷ ban Châu Âu (EU). EC đã ban hành và củng cố các quy tắc cạnh tranh và cấu trúc tổ chức liên quan đến những hoạt động như sáp nhập, chống độc quyền và đánh thuế, thậm chí còn quyết định cả việc định giá, quảng cáo và các hoạt động hàng ngày khác. Tuy đã có một quy tắc hoạt động chung như vậy, nhưng thực tế đến nay chưa có hiệu lực hoàn toàn, nên có nhiều công ty nước ngoài đã hoạt động với sự hiểm lầm rằng thị trường chung Châu Âu có nhiều mặt đồng nhất, cho nên đã phải chịu nhiều thất bại.
- Thứ hai: Những điểm khác biệt về văn hoá giữa các nước thành viên. Mặc dù EU là một bức tranh hợp tác kinh tế đẹp nhưng đối với các công ty nước ngoài thì vẫn cần những cách giải quyết khác nhau đối với 15 nước khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ cũng như về các hệ thống pháp lý. Trên thực tế đã cío những dấu hiệu cho người ta thấy tinh thần dân tộc giữa các nước thành vuêb của EU đang khuếch đại những sự khác nhau giữa các nước. Ví dụ, pháp rất quan tâm đến tính đồng nhất và đã thông qua một số điều lệ đặc biệt bắt buộc pbải sử dụng tiếng pháp trên tất cả các nhãn sản phẩm, trong tát cả các tờ rơi quảng cáo, cáo sổ tay hướng dẫn, giấy bảo hành và những thông tin khác của sản phẩm, trong khi tài liệu gốc in bằng một ngôn ngữ khác, theo một bản dịch ra tiếng pháp đầy đủ. Thật ra toàn bộ mục tiêu của họ là làm dễ dàng cho các hoạt động kinh doanh chứ không phải hạn chế chúng. EU đã tiêu chuẩn hoá và nâng cấp việc thu nhập dữ liệu cho các nước thành viên và đã lập một thủ tục kế toán thống nhất, một hệ thống hợp nhất rộng rãi của liên minh đã hoàn thành về cơ bản để cho các công ty kinh doanh thuận lợi hơn về thủ tục. Đồng thời, EU đã phát triển môn chương trình, trách nhiệm sản phẩm (nếu sản phẩm là ra đã có những khuyết tật gây nguy hiểm cho người sử dụng thì người sản xuất phải có trách nhiệm đối với sản phẩm của họ). Trong thực tế, liên minh Châu Âu không phải là một thực thể văn hoá có những mẫu hình đồng nhất về suy nghĩ, thấi độ và cách ứng xử. Thị trường EU chỉ thống nhất về mặt kỹ thuật, còn trong thực tế là nhóm thị trường quốc gia và khu vực, mỗi nước có một bản sắc và đặc trưng riêng mà các nhà xuất khẩu tại các nước đang phát triển thường không hay để ý tới. Mỗi nước thành viên tạo ra các cơ hội khác nhau và yêu cầu của họ cũng khác.
- Thứ ba: EU là một thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) có chế độ quản lý nhập khẩu chủ yếu dựa trên các nguyên tắc của tổ chức này. Các mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch không nhiều, nhưng lại sử dụng khá nhiều biện pháp phi thuế. Mặc dù thuế của EU thấp hơn so với các cường quốc kinh tế lớn và có xu hướng giảm, nhưng EU vẫn là một thị trường bảo hộ rất chặt chẽ vì hàng rào phi thuế (rào cản kỹ thuật) rất nghiêm ngặt. Do vậy, hàng xuất khẩu của ta muốn vào được thị trường này thì phải vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU. Rào cản kỹ thuật chính là quy chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU, được cụ thể hoá ở 5 tiêu chuẩn của sản phẩm: Tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an tòan cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động.
* Đối với tiêu chuẩn chất lượng:
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng xuất khẩu sang thị trường EU thuộc các nước đang phát triển. Thực tế cho thấy ở các nước đang phát triển Châu Á và Việt Nam, hàng của những doanh nghiệp có giấy chứng nhận ISO 9000 thâm nhập vào thị trường EU dề dàng hơn nhiều so với hàng hoá của các doanh nghiệp không có giấy chứng nhận này.
Đối với tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm: Các công ty chế biến thực phẩm phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ. Việc áp dụng hệ thống HACCP (Hazard Analysis Critical Controt Point) là rất quan trọng và gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các xí nghiệp chế biến thủy sản hải sản của các nước đang phát triển muốn xuất khẩu sản phẩm vào thị trường EU.
Đối với tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: Ký mã hiệu trở nên quan trọng số 1 trong việc lưu thông hàng hoá trên thị trường EU. Các sản phẩm có liên quan tới sức khỏe của người tiêu dùng phải có ký mã hiệu theo quy định của EU. Ví dụ, ký mã hiệc CE bắt buộc đối với đồ chơi, thiết bị điện áp thấm, thiết bị y tế, nguyên vật liệu xây dựng .v.v .
Đối với tiêu chuẩn bảo vệ môi trường: Thị trường EU yêu cầu hàng hoá có liên quan đến môi trường phải dán nhãn theo quy định (nhãn sinh thái, nhãn tái sinh) và có chúng chỉ được quốc tếư công nhận. Ví dụ, tiêu chuẩn GAP ( Good Agricultural Pracitve) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolavels) đang ngày càng được phổ biến, chứng tỏ cấp cấp độ khác nhau về môi trường tốt. Ngoài ra, các công ty ngày càng được yêu cầu phải tuân thủ hệ thống quản lý môi trường (các tiêu chuẩn ISO 14000) và các bộ luật mang tính xã hội về đạo đức. Tiêu chuẩn Theo Social Accountabiliy 8000 sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong những năm tới.
Đối với tiêu chuẩn về lao động: Uỷ ban Chây Âu (EC) đình chỉ hoạt động của các xí nghiệp sản xuất nội nghiệp này sử dụng lao động cưỡng bức và cấm nhập khẩu hàng hoá mà qúa trình sản xuất sử dụng bất kỳ một hình thức lao động cưỡng bức nào như được xác định trong các Hiệp ước Geneve ngày 25/9/1926 và 7/9/1956 và các Hiệp ước lao động quốc tế 29 và 105.
EU sử dụng "rào cản kỹ thuật" là biện pháp chủ yếu để b ảo hộ sản xuất và tiêu dùng nội địa hiện nay vì thuế nhập khẩu vào EU đang giảm dần. Hơn nữa, các nước đàng phát triển được EU cho hướng thuế quan ưu đãi GSP. Bởi vậy, yếu tố có tính quyết định việc hàng của các nước này có thâm nhập được vào thị trường EU hay không chính là hàng hoá đó có vượt qua được rào cản kỹ thật của EU hay không?
- Thứ tư: Việc tự do hoá về thương mại và đầu tư trên thế giới cũng như cải cách chính sách và cơ chế quản lý XNK của EU đang có xu hướng ngày càng được nới lỏng, các nhà xuất khẩu Việt Nam trong những năm tới chắc chắn sẽ phải đương đầu với những thử thách và cạnh tranh quyết liệt trên thị trường này. Trung Quốc đã trở thành thành viên chính thức của WTO, hàng xuất khẩu của họ được hưởng nhiều ưu đãi khi thâm nhập vào thị trường EU, đó là một nhân tố hàng xất khẩu của Việt Nam. Do đó, cạnh tránh trên thị trường này sẽ ngay càng gay gắt. Thị trường EU có đặc tính cạnh tranh mạnh mẽ như vậy nên bắt buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tạo ra lợi thế cạnh tranh hơn so với các đối thủ khác. Có nghĩa là chất lượng sản phẩm phải liên tục được cải thiện; mẫu mã và kiểu dáng phải được đổi mới nhănh. Chu trình của một sản phẩm sẽ gắn hơn. Giá sản phẩm rẻ hơn và phương thức dịch vụ tốt hơn. Các nhà xuất khẩu Việt Nam cần dựa vào chi phí lao động để cạnh tranh.
- Thứ năm, kênh phân phối của EU rất phức tạp. Có một số mặt hàng của ta rất được ưu chuộng tại EU như đồ gỗ gia dụng, đồ gốm, sứ mỹ nghê, nhưng cho đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tiếp cận trực tiếp được kênh phân phối này. Muốn tiếp cận được kênh phân phối EU, các doanh nghiệp phải nắm được đặc điểm của kênh phân phối để từ đó có những biện pháp cụ thể xâm nhập vào. Nhiều khi hàng xuất khẩu Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU chỉ tho một kênh phân phối. Việc này đã hạn chế khả năng đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao giá bán của các doanh nghiệp.
- Thứ sáu: Chính sách thương mại và đầu tư của EU bấy lâu chủ yếu nhằm vào các thị trường truyền thống có tính chiến lược là Châu Âu và Châu Mỹ. Đối với Châu Âu, trong đó có Việt Nam, chính sách thương mại của EU mới hình thành gần đây, đang trong qúa trình xem xét, thử nghiệm và khai thác.
EU dành quyền huỷ bỏ chế độ GSP đối với bất cứ nước nào có lao động cưỡng bức hoặc vi phạm các quy định bảo tồn tài nguyên rừng và biển, chính vì vậy, một số nước EU (Anh, Hà Lan, Đức) đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩnm gỗ của ta phải có chứng nhận về gỗ của Tổ chức môi trường xanh hoặc Tổ chức SOS nếu là gỗ nhập. Đồng thời EU liên tục đặt ra các quy định chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn công nghiệp nên đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ và thuỷ sản của ta vào thị trường này.
Quy chế nhập khẩu và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU rất chặt chẽ. Vì thế một số nông sản và thực phẩm. Việt Nam không đáp ứng được các yêu cầu chặt chẽ khi xuất khẩu vào EU. Điển hình là quy định của EU về giám sát lượng độc tố trong nhóm hàng động vật và thực phẩm. Do ta chưa đáp ứng được yêu cầu này, từ trước đếm nay thịt của ta chưa xuất khẩu được vào EU.
Như vậy. Đối với hàng xuất khảu của nước ta nói chung và hàng xuất khẩu thuỷ sản nói riêng để có thể xâm nhập vào thị trường EU đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường này và đây cũng là bước quan trọng đầu tiên trong việt xuất khẩu hàng hoá. Như ta đã biết khi nghiên cứu thị trường EU thấy rằng đây là thị trường rộng lớn cho xuất khẩu, có nhu cầu thuỷ sản đa dạng phong phú về chủng loại. Hàng năm EU nhập khẩu khoảng 20 tỷ USD thuỷ sản và hầu như xuất khẩu thuỷ sản ở tất cả các nước thành viên EU không đủ cung cấp cho nhu cầu nội địa.
************
II. ĐẶC ĐIỂM THUỶ SẢN THỊ TRƯỜNG THUỶ SẢN EU
* Về tiêu thu thuỷ sản:
Mục tiêu thuỷ sản trên thị trường EU vẫn tiếp tục tăng lên trong những năm qua tuy tốc độ tăng có chậm lai so với thập niên 80. Kết quả của các chiến lược marketing đã làm cho các sản phẩm như cá filê hun khói được tiêu thu phổ biến hơn trên thị trường Châu Âu. Ngoài ra, các món ăn chế biến sẵn từ thuỷ sản cũng là nhóm hàng có tốc độ tăng tiêu thu cao nhất trên thị trường EU.
Italia thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất của EU, chiếm tới 1/3 tổng dung lượng thị trường khu vực, tiếp theo là Đức (15%), Tây Ban Nha (15%) và Pháp (9%). Tuy nhiên, Bỉ lại là nước có mức tiêu thu thuỷ sản bình quân đầu người cao nhất EU - khoảng 180kg/ người/năm; tiếp theo là Italia khoảng 160kg/người/năm, Tây Ban Nha và Hy Lạp - khoảng 100/kg/người/năm, thấp nhất là Hà Lan và Áo - chỉ khoảng 25 kg/người/năm.
Cá tươi, cá ướp lạnh và động lạnh được tiêu thụ tại Italia nhiều hơn trên thị trường các nước thành viên EU khác, chiếm tới trên 40% tổng mức tiêu thụ cá của nước này trong khi ở Tây Ban Nha và Đức, hải sản giáp xác lại chiếm tỷ lệ lớn hơn, tương ứng 36% và 21% trong tổng mức tiêu thụ; tại Bỉ, nhóm thuỷ sản được ưa chuộng nhát lại là các loại cá khô, cá muối, cá hun khổi với tỷ trọng 30% trong tổng mức tiêu thụ.


Xem Thêm: Một số đặc điểm lớn của thị trường EU
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Một số đặc điểm lớn của thị trường EU sẽ giúp ích cho bạn.