Xuất khẩu gạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp
mục lục


lời giới thiệu 3


Chương I
Một số lí luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu trong nên kinh tế quốc dân

I.Sự cần thiết phải thúc đẩu xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu gạo 5
I.1. Khái niệm và sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu 5
I.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động xuất khẩu 8
I.2.1. Mục tiêu của hoạt động xuất khẩu 8
I.2.2. Nhiệm vụ của hoạt động xuất khẩu 8
I.3. Nội dung của hoạt động xuất khẩu 9
I.4. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 15
I.5. Khái quát về tình hình thị trường lúa gạo thế giới 17
I.5.1. An ninh lương thực thế giới 17
I.5.2. Khái quát về tình hình thị trường lúa gạo thế giới 19
I.6. Vai trò của hoạt động xuất khẩu gạo 22

II. Đánh giá lợi thế so sánh trong việc xuất khẩu gạo của Việt Nam 24
II.1. Những lợi thế và bất lợi của nền kinh tế trong giai đoạn hội nhập vào khu vực và thế giới 24
II.2. Lợi thế so sánh của Việt Nam về xuất khẩu gạo 25


Chương II
Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam
trong thời gian qua


I. Tình hình sản xuất chế biến lúa gạo trong thời gian qua 28
I.1. Thực trạng sản xuất lương thực và lúa hàng hoá 28
I.1.1. Tình hình chung 28
I.1.2. Sản xuất lúa hàng hoá ở đồng bằng sông Cửu Long 30
I.2. Thực trạng chế biến lúa hiện nay 33
I.3. Cân đối lương thực 36
I.4. Lưu thông lương thực trong nước 37

II. Xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2001 40
II.1. Vài nét về tình hình xuất khẩu 40
II.2. Đánh giá quá trình xuất khẩu gạo của nước ta từ 1990 đến nay 43
II.2.1. Về cơ chế điều hành 43
II.2.2. Về kết quả xuất khẩu gạo 47
I.2.3. Về chất lượng gạo xuất khẩu 48
II.2.4. Về thị trường, thương nhân và giá cả 52
II.2.5. Những tồn tại trong xuất khẩu gạo 55

Chương III
Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo
trong thời gian tới

I.Giải pháp về sản xuất lúa hàng hoá 58
I.1. Hình thành các vùng chuyên canh lúa xuất khẩu 58
I.2. Giải pháp về sản xuất và chế biến 58
I.2.1. Giải pháp về giảm giá thành sản xuất 58
I.2.2. Về chế biến 59
I.2.3. Về khâu nâng cao kĩ thuật canh tác 59
I.2.4. Về giống lúa 60
II. Khắc phục những hạn chế trong xuất khẩu gạo 62
II.1. Đối với các doanh nghiệp 62
II.2. Các chính sách về thị trường 63
II.3. Tăng cường vai trò của Hiệp hội lương thực 64
III. Giải pháp về quản lý điều hành hoạt động xuất khẩu gạo giai đoạn 2002 - 2010 64
III.1 Về mặt hàng 64
III.2. Về quản lý doanh nghiệp xuất khẩu 66
III.3.Giải pháp về phát triển thị trường và bình ổn thị trường 66
III.3.1. Giải pháp phát triển thị trường 67
III.3.2. Giải pháp bình ổn thị trường 68


kết luận 70


Lời giới thiệu

Thực hiện đường lối của Đảng, trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp nước ta liên tiếp thu được những thành tựu to lớn. Thành tựu lớn nhất là trong một thời gian không dài, từ một nền nông nghiệp tự cấp tự túc, lạc hậu vươn lên trở thành một nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia và có tỉ suất hàng hoá ngày càng lớn, có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới. Việt Nam trở thành một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu một số mặt hàng nông sản, đặc biệt là gạo.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập khu vực và thế giới, nền nông nghiệp Việt Nam phải tiếp tục giải quyết nhiều vấn đề vừa cơ bản, vừa bức xúc, nhằm đáp ứng nguyện vọng của nông dân và lợi ích của đất nước.
Tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của số đông dân số đặc biệt là nông dân, lúa gạo được coi là mặt hàng nhạy cảm nhất. Từ thực tế sản xuất lúa gạo đáp ứng "cái ăn" của khoảng 80 triệu dân Việt Nam, đến sản xuất lúa hàng hoá tham gia thị trường thế giới với tư cách là nước xuất khẩu từ hơn một thập kỉ nay, nhiều vấn đề bức xúc đặt ra cần phải giải quyết đối với sản xuất và xuất khẩu. Nghị quyết 09/2001/ NQ-CP ngày 15.6.2001 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ: "Lúa gạo là ngành sản xuất có thế mạnh của nước ta, nhất là hai vùng đồng bằng sôn Cửu Long cà đông bằng sông Hồng. Phải đảm bảo an toàn lương thực, đủ lúa gạo dự trữ quốc gia và có số lượng cần thiết để xuất khẩu. Mức sản lượng ổn định khoảng 33 tiệu tấn năm, trong đó, lúa gạo để ăn và dự trữ khoảng 25 triệu tấn, số còn lại để xuất khẩu và cho các nhu cầu khác. sản xuất lúa gạo chủ yếu dựa vào thâm canh, sử dụng giống có chất lượng cao, đáp ứng có hiệu quả yêu cầu của thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Giữ ổn định khoang 4 triệu ha đất để có điều kiện tưới, tiêu chủ động để sản xuất lúa".
Nhằm thực hiện thành công Nghị quyết nêu trên, rất cần thiết phải có sự nhìn nhận lại thực trạng sản xuất lúa hàng hoá và việc xuất khẩu gạo những năm vừa qua, đặt nó trong bối cảnh chung của thế giới, có ngiên cứu, xem xét và so sánh với một số quốc gia điển hình, có những đặc điểm tương đồng với ta để tìm đến những giải pháp là mục đích nghiên cứu của em trong bài viết này.
Chuyên đề "Xuất khẩu gạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp " chủ yếu sẽ cố gắng đánh giá những mặt đã làm được và chưa làm được của việc xuất khẩu gạo của nước ta giai đoạn từ 10 năm trở lại đây. Và, việc xem xét đánh giá đó được đặt trong bối cảnh chung của thực trạng sản xuất lúa, tiêu dùng và dự trữ cũng như thị trường buôn bán gạo toàn cầu, có nghiên cứu so sánh với cách làm của nước đứng đầu trong xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới; từ đó có định hướng và đề xuất những giải pháp cơ bản nhất để khắc phục, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu trong thập niên tới
Chuyên đề nghiên cứu này có nội dung gồm 3 chương:
- Chương I: Một số lí luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân
- Chương II: Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam
- Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo trong thời gian tới
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn, tận tình của ông Nguyễn Đăng Chi - phó vụ trưởng Vụ xuất nhập khẩu Bộ thương mại- và của giáo viên hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Hương. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
kết luận

Cùng với những thành tựu to lớn trong đương lối phát triển nông nghiệp của Đảng và Nhà nước trong những năm vừ qua, sản xuất lúa hàng hoá và xuất khẩu gạo từ năm 1990 đến 2001 đã đạt được những thành quả đáng khích lệ. Sản xuất lú hàng hoá và xuất khẩu gạo đã có tác động tích cực trở lại đó với sản xuất nông nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế nói chung của đất nước. Mặc dù chỉ là một mặt hàng cụ thể, nhưng lúa gạo có vai trò, có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó là mặt hàng nhạy cảm. Biến động giá lúa gạo do việc kiểm soát yếu kém sẽ ảnh hưởng ngay đến đời sống của hơn 80% dân số trong khoói nông nghiệp, ảnh hưởng đến an toàn lương thực quốc gia và an ninh trật tự xã hội
Không chỉ ở bình diên quốc gia, ngay cả trên thế giới các nhà kinh tế cũng đã nghiên cứu và đưa ra nhận định: " thế giới có đủ khả năng sản xuất lương thực để nuôi sống hơn 6 tỷ người hiện nay nhưng vẫn có nguy cơ bị đói'. Với trên 700 triệu ha đang được sử dụng để sản xuất lương thực (trong đó có lúa), chưa kể việc tăng năng suấtcây trồng và mở rộng thêm diện tích canh tác đó làkhả năng đảm bảo lương thực của toàn thể nhân loại. Tuy nhiên nguy cơ bị đói vẫn còn do việc nghiên cứu sản xuất và tiêu dùng lương thực hiện nay của thế giới chủ yếu do các tổ chức tư nhân thực hiện. Quyền lợi tiếp cận và được đáp ứng nhu cầu lương thực của con người chưa được đảm bảo và quan tâm đúng mức ở nhiều quốc gia; ấy là chưa kể đến yếu tố thiên tai khó lường trước và thường xuyên xảy ra ở mọi nơi.
Nhà kinh tế học ấn độ đoạt giải Nobel kinh tế năm 1999 -người có công lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo đối với các nước đang phát triển, đã từng nói: "Bất kì một quốc gia nào, và bất kì vì lí do gì, nếu còn có người bị đói thì chưa có một nền dân chủ dân chủ thực sự ",điều này hẳn làm cho những ai quan tâm về nhu cầu lương thực của con người phải suy nghĩ.
Đối với Việt Nam, trong thời gian tới gạo vẫn là mặt hàng cần được quan tâm và hỗ trợ trong các khâu từ sản xuất, chế biến dự trữ đến xuất khẩu bởi vì hiện nay chúng ta phải duy trì và ổn định sản lượng lương thực do vẫn còn chứa đựng các yếu tố đe doạ an ninh lương thực quốc gia
Sản xuất lúa hàng hoá và xuất khẩu gạo có tác động tích cực đến việc phát huy nguồn lực trong nước, góp phần đáng kể để phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa nước ta và các nước khác trên thế giới, góp phần thực hiện thànhcông mục tiêu xoá đói giảm nghèo của Đảng.
Yêu cầu cơ bản cụ thể đã và sẽ vẫn còn được đặt ra đối với sản xuất lúa hàng hoá và xuất khẩu gạo của Việt Nam là:
- Tiêu thụ hết lúa hàng hoá, đảm bảo quyền lợi của người sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển.
-Đảm bảo không có biến động trên thị trường nội địa, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần tăng thu ngoại tệ phục vụ công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Chúng ta vừa đi qua một chặng đường 1990-2001. Việc sản xuất lúa hàng hoá và xuất khẩu gạo trong thời gian tới, trước mắt đối với thời kì 2002-2005 đang có thế và lục mới. Nhà nước đã có khá đủ chủ trương, chính sách cơ chế mở lối thông thoáng cho sản xuất và xuất khẩu, đặc biệt có đường lối, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với nỗ lực cao của Chính phủ, của các ngành, các cấp, của chính quyền địa phương và của các doanh nghiệp, hy vọng rằng mọi thử thách sẽ được vượt qua, những yêu cầu nêu trên trong nhiệm vụ của sản xuất lúa hàng hoá - xuất khẩu gạo chắc chắn sẽ được thực hiện một cách tốt đẹp./.


Xem Thêm: Xuất khẩu gạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Xuất khẩu gạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp sẽ giúp ích cho bạn.