TỔNG MỨC ĐẦU TƯ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,SỬ DỤNG CHỈ TIÊU SUẤT VỐN ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM ,MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

CHƯƠNG II:TỔNG MỨC ĐẦU TƯ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,SỬ DỤNG CHỈ TIÊU SUẤT VỐN ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM ,MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

I.Tổng mức đầu tư tại Việt Nam và một số nước trên thế giới:
1.1Tổng mức đầu tư tại Việt Nam và những vấn đề còn bất cập.
Chỉ tiêu tổng mức đầu tư được xác định dựa trên cơ sở năng lực sản xuất theo thiết kế, khối lượng các công tác chủ yếu và suất vốn đầu tư, do cơ quan có thẩm quyền quyết định - được tính theo công thức:
PTMĐT=CS.SVĐT
Trong đó:
CS : Năng lực ( công suất ) của đối tượng đầu tư.
SVĐT : Suất vốn đầu tư, bao gồm mức chi phí trung bình về xây lắp, thiết bị, các chi phí khác và dự phòng tính cho một đơn vị năng lực hay công suất của một đối tượng đầu tư cụ thể.
Tổng mức đầu tư được phân tích, tính toán trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình.Qua tìm hiểu , nghiên cứu một số dự án khả thi và theo các số liệu của viện kinh tế xây dựng cho thấy trên thực tế còn nhiều vấn đề bất cập trong việc xác định tổng mức đầu tư của dự án.
Thứ nhất,các chỉ tiêu suất vốn đầu tư, giá tính cho một đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất, bị lạc hậu rất nhanh và còn chứa đựng một phần chi phí đáng kể khó xác định chính xác,đó là chi phí đền bù,giải phóng mặt bằng
Thứ hai,do tính đơn chiếc của sản phẩm xây dựng nên phần nhiều các nhà tư vấn ít sử dụng chỉ tiêu suất vốn đầu tư hoặc có nhưng chưa hoàn thiện lại nó trong việc xác định tổng mức đầu tư của dự án.
Thứ ba,nhiều nội dung các khoản chi phí cần phải đầu tư theo tính chất, đặc điểm của dự án không được quan tâm hoặc đề cập:
Chi phí xây lắp: Cơ sở để xác định chi phí này cả khối lượng và tư liệu sử dụng đều ước tính mà hầu hết đều không nêu rõ cơ sở ước tính.
Chi phí thiết bị: ở giai đoạn này chưa có khối lượng và công nghệ sản xuất nên hầu hết các dự án đều xuất phát từ công suất sản xuất của dự án để lựa chọn phương án thiết bị.Tuy nhiên, về giá trị (đặc biệt là những thiết bị Việt Nam chưa sản xuất được hoặc chưa có ở Việt Nam) đều được ước tính mà phần lớn thiếu các cơ sở đáng tin cậy.
Chi phí khác:Khoản mục chi phí này gồm rất nhiều nội dung chi phí thuộc tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư, trong đó có rất nhiều nội dung rất khó lượng hóa, chẳng hạn chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến dự án, chi phí khởi công, chi phí đền bù đất đai,hoa màu, chi phí khánh thành.Vì thế, trong thực tế các chi phí khác cũng phải ước tính và trong nhiều trường hợp là không có cơ sở rõ ràng.
Chi phí dự phòng:Được tính theo tỉ lệ phần trăm(%) quy định so với các khoản chi phí nói trên.
Chi phí vốn lưu động phục vụ sản xuất thử:Trong nhiều dự án thực tế không tính khoản này vào tổng mức đầu tư và nếu một dự án có tính đến khoản này cũng đều trên cơ sở ước tính không có cơ sở chắc chắn.
Những vấn đề bất cập trên đã dẫn tới một thực tế là trong thời gian qua, phần nhiều các công trình xây dựng do trung ương và địa phương đầu tư xây dựng đều phải bổ xung thêm vốn đầu tư vào tổng mức đầu tư đã được phê duyệt ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Nội dung được nêu trong bảng 1 là kết quả thống kê,phân tích đánh giá mức tăng,giảm vốn đầu tư theo cơ cấu vốn đầu tư của một số công trình




Xem Thêm: Tổng mức đầu tư và tình hình nghiên cứu,sử dụng chỉ tiêu suất vốn đầu tư tại việt nam ,một số nước t
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Tổng mức đầu tư và tình hình nghiên cứu,sử dụng chỉ tiêu suất vốn đầu tư tại việt nam ,một số nước t sẽ giúp ích cho bạn.