THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ sử dụng vốn đầu tư bắc giang

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ BẮC GIANG.

I. TỔNG QUAN ĐẦU TƯ TỈNH BẮC GIANG.
Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, thực hiện Nghị quyết đại hộ đảng bộ lần thứ VIII, thứ IX và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ 15, lĩnh vực đầu tư phát triển ở tỉnh đã có những chuyển biến rõ rệt.
Các nguồn vốn
Bảng 1. Tổng hợp cơ cấu nguồn vốn đầu tư tỉnh Bắc Giang 1992-2002.
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Tổng 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Vốn NSNN 1625.4 39 36 71 59 59 83 92 100.5 303.1 460.6 316.2
Vốn DN ngoài quốc doanh 2006.5 277 240 227 207 207 178 93.8 97.8 124.7 194 196.2
Vốn nước ngoài 283.3 0 0 0 0 0 0 38.2 52.8 61 95.6 35.7
Vốn tín dụng 945 6.5 15 9 9 34 129 86 84.5 129 180.7 185.3
Vốn tự có của doanh nghiệp 855.8 6.5 4 8 8 15 10 56 69.4 74.2 111.1 496.6
Cộng 5716 329 295 315 315 332 400 366 400 692 1042 1230

Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư và niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang.
Qua bảng cho thây trong 11 năm qua toàn tỉnh đã huy động được 5716 tỷ đồng. Trong đó vốn NSNN là 1625.4 tỷ đồng, năm 1992 vốn NSNN chỉ chiếm 11.8% tổng vốn đầu tư, đến năm 1997 tăng lên 20.7% và năm 2002 chiếm 25.7%; vốn ngoài quốc doanh là 2006.5 tỷ đồng; vốn nước ngoài 283.3 tỷ; vốn tín dụng là 945 tỷ; vốn tự có của doanh nghiệp 855.8 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư tư NSNN tăng dần đến năm 2001 đạt mức cao nhất 460.6 tỷ đồng. Nguồn vốn dành chủ yếu cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, thuỷ lợi, điện và cung cấp nước sạch. Đây là lĩnh vực cần nhiều vốn mà các thành phần kinh tế chưa có đủ khả năng đảm nhiệm. Phải có cơ sở hạ tầng vững mạnh thì mới có khả năng thu hút thêm nhiều vốn đầu tư từ các khu vực, các nước và các tổ chức để phục vụ cho sự phát triển.
Vốn tín dụng, bao gồm tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước và vốn tín dụng đầu tư của Ngân hàng tăng với tốc độ nhanh nhất, năm 1997 đầu tư tăng 98.4% lần so với năm 1992, năm 2002 đầu tư tăng 43.6%. Điều đó chứng tỏ tỉnh đã quan tâm tập trung đầu tư vốn vào lĩnh vực trực tiếp sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm hàng hoá và lợi nhuận. Thông qua hình thức đầu tư này đã giúp địa phương xây dựng được một số cơ sở vật chất kỹ thuật tạo ra nhiều năng lực sản xuất mới như nhà máy xi măng Hương sơn công suất 8.8 vạn tấn, tổng mức đầu tư 60 tỷ đồng; Nhà máy bia HaBaDa công suất 3 triệu lít/năm, tổng mức đầu tư 53 tỷ đồng; xí nghiệp gạch Hồng thái công suất 20 triệu viên/năm, tổng mức đầu tư 10 tỷ đồng . Điều đó cho thấy cơ chế quản lý đầu tư đã từng bước chuyển đổi theo hướng giảm bao cấp qua con đường cấp phát chuyển dần sang hình thức cho vay.
Vốn tín dụng huy động cho đầu tư phát triển trong suốt giai đoạn tư năm 1992-1996 là rất khiêm tốn, nhưng có sự đột biến tăng vọt từ năm 1997-2002, giai đoạn này là mới tách tỉnh, việc vốn tín dụng gia tăng cho đầu tư phát triển là một tín hiệu đáng mừng vì vấn đề nổi cộm là nhu cầu rất lớn về vốn đầu tư với lãi suất ưu đãi, vốn trả chậm đang mâu thuẫn với khả năng nguồn vốn hạn hẹp và yêu cầu kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng. Chính vì vậy nhiều khi xảy ra hiện tượng ngân hàng ứ đọng vốn, còn các cơ sở thiếu vốn đầu tư, vì vậy, cần có những chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý để giải quyết vấn đề này. Mặt khác, quy định đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tư nhân khi vay vốn tín dụng ưu đãi phải có tài sản thế chấp thực hiện tại tỉnh miền núi như Bắc Giang là chưa phù hợp với tình hình kinh tế trong địa bàn tỉnh, cho nên việc giải ngân hàng năm thực hiện không theo chi tiêu tín dụng được thông báo.
Vốn đầu tư tự có của các doanh nghiệp từ năm 1991-1997 về số tuyệt đối tăng từ 6.5 tỷ lên 10 tỷ, tăng hang năm rất chậm, bắt đầu từ năm 1997-2002 tăng nhanh hàng năm từ 56 tỷ đến năm 2002 là 496.6 tỷ.
Vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh về số tuyệt đối năm 1992 là 277 tỷ đồng giảm dần đến năm 1996 là 171 tỷ mỗi năm xụt giảm 20 tỷ, nhưng bắt đầu từ năm 1998 đến năm 2002 vốn đã tăng từ 93.8 tỷ lên 196.2 tỷ.
Vốn nước ngoài từ năm 1992 đến năm 1997 là không có, băt đầu từ năm 1998 có đầu tư nước ngoài 38.2 tỷ tăng dần năm 2001 là 95.6 tỷ, năm 2002 giảm còn 35.7 tỷ.
Tình hình thu hút vốn của tỉnh được chia làm hai giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1997 và từ năm 1998 đến năm 2002 có sự khác biệt lớn là do năm 1997 tỉnh Hà Bắc được tách thanh hai tỉnh Bắc Giang và Băc Ninh, vốn đầu tư vào tỉnh đã có sự thay đổi đáng kể từ sau khi tách tỉnh, vốn NSNN tăng, vốn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm, có vốn đầu tư nước ngoài, vốn tín dụng tăng, vốn tự có của các doanh nghiệp tăng do các doanh nghiệp đã chú trọng vào sản xuất theo cơ chế thị trường.




Xem Thêm: Thực trạng vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư bắc giang
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Thực trạng vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư bắc giang sẽ giúp ích cho bạn.