Thực trạng hoạt động đầu tư cho Công bằng xã hội.

I. Hoạt động Đầu Tư nhằm làm giảm phân hoá giàu nghèo.
1. Đầu tư cho việc phát triển nông nghiệp nông thôn và các vùng kinh tế khó khăn.
1.1. Tình hình đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn.
a) Nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn tăng dần qua các năm.
Hiện nay trên 77% cư dân sống ở nông thôn, 70% thu nhập và đời sống của cư dân nông thôn dựa vào nông nghiệp, 90% người nghèo sống ở nông thôn, do đó việc phát triển nông nghiệp và nông thôn là mấu chốt của chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói giảm nghèo. Nhà nước đã tập trung đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn trong 10 năm 1991- 2000 gần 70 nghìn tỷ đồng (giá 1995), tương đương 6 tỷ đô la
< vốn đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp> <nguồn: Tổng Cục thống kê>
19951996199719981999
Tổng số68047793679687097336103771
Nông lâm thuỷ sản (tỷ VNĐ)52095723708476297733
Tỷ trọng(%)7,77,27,37,87,5


Tốc độ tăng vốn bình quân hàng năm gần 23% (bình quân chung cả nước là 19,1%) trong đó tốc độ tăng vốn bình quân trong 5 năm 1996- 2000 là 22%. Rõ ràng, trong 2 năm 2001 và 2002 tốc độ tăng vốn đầu tư rất nhanh so với các giai đoạn trước. Tỷ trọng vốn đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn trong tổng vốn đầu tư xã hội bình quân 1991- 2000 là 10,2%, năm 2001 là 17,6% và năm 2002 khoảng 19- 20%. Như vậy trong 2 năm gần đây đã có sự tập trung cao hơn cho nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Nguồn vốn từ NSNN (bao gồm cả vốn ODA) đã tăng đáng kể cho khu vực này, chiếm khoảng 50% vốn đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn. Nguồn vốn từ các hộ gia đình, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và vốn FDI cũng tăng dần qua các năm. Nhờ quy mụ đầu tư trong thời gian qua, tình hình đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đạt được một số kêt quả nhất định trong việc xoá đói giảm nghèo và nâng cao mức thu nhập chung cho vùng này.
b) Hoạt động đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn đã có sự đa dạng hơn góp phần xoá đói giảm nghèo.
Do có sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp dẫn đến năng lực sản xuất trong các ngành tăng nhanh, qua đó làm tăng năng suất lao động xã hội trong khu vực vốn được coi là năng suất chậm nhất cả nước.
Để giải quyết nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn, chúng ta cũng đã đầu tư nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến phát triển tại các địa phương đồng thời có chính sách đầu tư khuyến khích phát triển các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp nhỏ, tiến tới đa dạng hoỏ thu nhập trong nông nghiệp để nông dân không chỉ phụ thuộc duy nhất vào một nguồn dễ cú tớnh rủi ro. Trong những năm qua, chỳng ta vẫn tiếp tục đầu tư phát triển làng nghề truyền thống. Nhiều nghề truyền thống được khôi phục tạo ra nguồn thu nhập bổ sung cho người lao động. Nhiều tỉnh đó ỏp dụng mụ hỡnh này thành cụng tại thời điểm năm 2003 như các tỉnh Hà tây, Hà nam, đó gúp phần giải quyết tỡnh trạng thừa thời gian lao động ở nông thôn.
Bên cạnh đó, nhờ có chính sách khuyến khích đầu tư vào ngành nông nghiệp và nông thôn nên số dự án FDI vào khu vực này cũng tăng nhanh qua đó cũng tạo thêm nhu cầu về lao động. Năm 1998, đã có 225 doanh nghiệp có vốn FDI Đầu tư vào nông nghiệp. Trong đó, có khoảng 1,5 tỷ USD cho lĩnh vực chế biến lương thực và nông lâm hải sản và 910 triệu USD cho sản xuất nông nghiệp. Qua đó, năng lực sản xuất và chế bién nông lâm thuỷ sản được nâng cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Đến năm 2003, chúng ta đã thu hút được 780 dự án với tổng vốn dăng ký trên 3,8 tỷ USD, tăng thêm 555 dự án so với năm 1998. Năm 97, các doanh nghiệp có vốn FDI đã giảI quyết việc làm cho trên 20000 lao động trực tiếp và hàng chục nghìn lao động gián tiếp với mức lương bình quân 60USD/ 1tháng qua đó cũng góp phần nâng cao mức thu nhập trung bình của khu vưc nông thôn. Trong những ngày cuối của năm 2000, chúng ta cũng đã cấp giấy phép cho dự án chế biến nông nghiệp với số vốn là 150 triệu USD.
Tất cả những tác động trên của hoạt động đầu tư cho nông nghiêp đã làm cho khu vực này trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng nhanh dần qua các thời kỳ. Trong thời kỳ 1986- 2000 tốc độ tăng trưởng của ngành nông lâm dịch vụ là 3,1 % thì đến giai đoạn 1996- 2000 tốc độ tăng trưởng là 4,3%. Năm 2003, tốc độ tăng trưởng của ngành khoảng 4,9% so với 2002.






Xem Thêm: Thực trạng hoạt động đầu tư cho Công bằng xã hội.
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Thực trạng hoạt động đầu tư cho Công bằng xã hội. sẽ giúp ích cho bạn.