Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    TIỂU LUẬN Chính sách quản lý nhập khẩu của Mỹ trong những năm gần đây

    VipKòi Xinh Kòi Xinh Đang Ngoại tuyến (182507 tài liệu)
    Thành Viên Tích Cực
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Chính sách quản lý nhập khẩu của Mỹ trong những năm gần đây


    MỤC LỤC:
    LỜI MỞ ĐẦU 2
    I. Lý luận chung về chính sách Nhập Khẩu: 3
    1. Vai trò của nhập khẩu: 3
    2. Các công cụ quản lý, điều hành nhập khẩu: 4
    2.1 Thuế nhập khẩu: 4​2.2 Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu: 6​II. Chính sách nhập khẩu của Mỹ trong giai đoạn hiện nay: 7
    1. Chính sách thuế quan: 7
    2. Chính sách phi thuế quan: 9
    2.1 Hạn ngạch nhập khẩu: 9​2.2 Các quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật và vệ sinh dịch tễ:​2.3 Quy định về xuất xứ và ký mã hiệu hàng hóa: 14​2.4 Các biện pháp phòng vệ thương mại : 17​KẾT LUẬN: 23
    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 24
    LỜI MỞ ĐẦUMỹ là nước nhập khẩu hàng hóa lớn nhất và là nước xuất khẩu đứng hạng nhì. Canada, Trung Quốc, Mexico, Nhật Bản, và Đức là các bạn hàng lớn nhất của Mỹ. Hàng xuất khẩu hàng đầu là máy móc điện, trong khi xe hơi chiếm vị trí hàng đầu về nhập khẩu. Kim ngạch Xuất nhập khẩu của Mỹ năm 2010 : xuất khẩu đạt 1.270 tỷ USD và nhập khẩu đạt 1.903 tỷ USD. Do đó, Mỹ được coi là một thị trường quan trọng và lớn nhất thế giới mà nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam mong muốn hàng hoá của mình thâm nhập được vào. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang thực hiện chiến lược hướng tới xuất khẩu để phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì thị trường Mỹ là một thị trường không thể bỏ qua. Song, do những hạn chế của chính sách cấm vận của Mỹ với Việt Nam trong nhiều năm kể từ sau cuộc chiến tranh giữa hai nước cộng với những khác biệt về chế độ chính trị, kinh tế, ngoại giao, chính sách thương mại đã khiến cho thị trường Mỹ tuy hấp dẫn nhưng đầy xa lạ với các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, khả năng rủi ro xảy đến với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất hàng sang Mỹ cũng lớn hơn so với các thị trường khác.
    Chính vì thế, sau khi học môn Chính sách thương mại quốc tế, với những kiến thức đã học được, chúng em mong muốn được vận dụng những kiến thức này để nghiên cứu và tìm hiểu về các chính sách quản lý nhập khẩu của Hoa Kỳ, vì thế nên chúng em đã chọn đề tài “ Chính sách quản lý nhập khẩu của Mỹ trong những năm gần đây”. để thực hiện bài tiểu luận của mình. Qua đấy, góp phần cho sự thành công của các doanh nghiệp Việt Nam trong buôn bán với Mỹ.
    Mặc dù đã cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ có hạn, tiểu luận chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được sự chỉ dẫn tận tình của thầy để có thể hoàn thiện tiểu luận này. I. Lý luận chung về chính sách Nhập Khẩu: 1. Vai trò của nhập khẩu: Nhập khẩu cùng với xuất khẩu là hai bộ phận của hoạt động kinh tế đối ngoại, là chiếc cầu nối giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Hiện nay khi các nước đều có xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, nền kinh tế quốc gia đã hoà nhập với nền kinh tế Thế giới thì vai trò của nhập khẩu đã trở nên vô cùng quan trọng.
    - Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, cho phép tiêu dùng một lượng hàng hoá lớn hơn khả năng sản xuất trong nước và tăng mức sống của nhân dân.
    - Nhập khẩu làm đa dạng hoá mặt hàng về chủng loại, quy cách, mẫu mã cho phép thoả mãn nhu cầu trong nước.
    - Nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển trong xã hội.
    - Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại, tạo ra động lực bắt buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, tạo ra sự phát triển xã hội và sự thanh lọc các đơn vị sản xuất.
    - Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng, chế độ tự cấp, tự túc.
    - Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hoá hiếm hoặc quá hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được).
    - Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế, thị trường trong và ngoài nước với nhau, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hoá.
    2. Các công cụ quản lý, điều hành nhập khẩu:Ngày nay, trong hoạt động mở rộng kinh tế đối ngoại của các quốc gia, hoạt động ngoại thương giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Một trong những công cụ quan trọng để đạt được mục tiêu của các chính sách thương mại là dựa vào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan.
    2.1 Thuế nhập khẩu:v Khái niệm: Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu.
    v Vai trò của thuế nhập khẩu:
    · Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước:
    Trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia, thông thường gồm các khoản
    thu như : thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách chính phủ. Trong các khoản
    thu đó, có thể nói rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước. Từ kinh nghiệm của các nước, có hai vấn đề có tính nguyên tắc cần chú ý trong chính sách thuế quan để có thể tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách là :
    + Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà lại
    không gây cản trở, thậm trí còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội. Thuế
    không được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.
    + Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ làm sao để người chịu thuế bớt cảm thấy gáng nặng của thuế.
    · Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân :
    Khi kinh tế phát triển, chính phủ có thể gia tăng thuế để làm cán cân thu nhập nghiêng về phía nhà nước, hạn chế thu nhập có thể sử dụng, tăng tích luỹ nhà nước, tạo ra một nguồn nhất định dự phòng khi kinh tế bị suy thoái hay gặp những điều kiện bất lợi. Nói cách khác, chính phủ sẽ giảm thuế khi nền kinh tế đang khó khăn.
    Để phù hợp với chính sách của chính phủ trong từng giai đoạn, thuế được sử
    dụng như một biện pháp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất thông qua các mức thuế
    suất phân biệt đối với từng sản phẩm, dịch vụ hoặc giữa các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau, có chính sách ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành hàng.
    · Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển :
    Để bảo hộ sản xuất trong nước, một trong những biện pháp hữu hiệu mà chính phủ các nước hay sử dụng là đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu để làm tăng giá thành hàng hoá nhập khẩu, dẫn đến giảm mức cạnh tranh với sản phẩm trong nước.
    · Thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại :
    Các nước có thể thực hiện thuế ưu đãi đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc hoặc những thoả thuận ưu đãi riêng và áp dụng thuế trả đũa đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thực hiện các biện pháp bán phá giá, trợ giá của chính phủ hoặc từ những nước có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của nước mình.
    · Góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối:
    Trong nền kinh tế tập trung, tình trạng phân cực giàu nghèo là khó có thể
    tránh khỏi. Tình trạng này không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên
    quan đến đạo đức, công bằng xã hội. Vì vậy sự can thiệp, điều tiết của chính phủ rất quan trọng, trong đó thuế là một công cụ hữu ích. Thông qua thuế, chính phủ có thể thực hiện điều tiết thu nhập bằng cách đánh thuế cao đối với những công ty, cá nhân có thu nhập cao và đánh cao vào những hàng hoá dịch vụ cao cấp mà đối tượng phục vụ chủ yếu là tầng lớp có thu nhập cao và ngược lại.
    · Đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách ngoại thương của mọi quốc gia :
    Trong xu hướng đưa hoạt động ngoại thương và thương mại quốc tế vào môi trường tự do cạnh tranh, các quốc gia đều cố gắng giảm dần mức thuế quan xuống, tiến tới xoá bỏ các rào cản thương mại.
    2. 2 Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu:v Khái niệm : Phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan làm cản trở tự do thương mại. Trước kia các nước thường hay sử dụng biện pháp phi thuế quan với mục đích chủ yếu là để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng hiện nay cùng với xu thế quốc tế hoá ngày càng mở rộng, biện pháp này dần dần được xoá bỏ và thay thế bằng các biện pháp thuế quan.
    v Vai trò của các biện pháp phi thuế quan :
    Phi thuế quan cũng thường được sử dụng với những mục đích tương đối giống thuế quan. Tuy nhiên, theo thời gian, đi đôi với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế là sự phát sinh nhiều vấn đề và vai trò của phi thuế quan đã được mở rộng, gây ảnh hưởng gián tiếp đến những quan hệ khác. Một trường hợp điển hình là nó được sử dụng như là một trong những biện pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường - một vấn đề được coi là vấn đề toàn cầu hiện nay.
    v Các biện pháp phi thuế quan:
    Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp tương đương thuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
    II. Chính sách nhập khẩu của Mỹ trong giai đoạn hiện nay:1. Chính sách thuế quan:· Hệ thống thuế quan : Hệ thống thuế quan của Mỹ là Biểu Thuế quan hài hoà của Hợp chúng quốc Hoa kỳ (Harmonized Tariff Schedule - HTS). Ðược chính thức thông qua ngày 1 tháng 1 năm 1989, hệ thống này được xây dựng dựa trên Hệ thống Mô tả hàng hoá và Mã số Hài hoà của Hội đồng Hợp tác Hải quan, một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tại Brúc-xen. Ðược coi là hệ thống hài hoà, hệ thống thuế quan này được hầu hết các quốc gia thương mại lớn sử dụng.
    · Mức thuế suất:- Mức thuế tối huệ quốc (MFN), hay còn gọi là mức thuế dành cho các nước có quan hệ thương mại bình thường (NTR), được áp dụng với những nước thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và những nước tuy chưa phải là thành viên WTO nhưng đã ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ như Việt Nam. Mức thuế suất biến động từ dưới 1% đến gần 40%, đối với hàng dệt may nhập khẩu thường phải chịu thuế cao hơn. Hầu hết thuế tỷ lệ trên giá trị trong khoảng từ 2 đến 7%, với mức thuế trung bình là 4%.
    - Mức thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) được áp dung đối với những nước chưa phải là thành viên WTO và chưa ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ nằm trong khoảng từ 20% đến 110%, cao hơn nhiều lần so với thuế suất MFN.
    - Mức thuế áp dụng với Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Hàng hoá nhập khẩu từ Canada và Mexico được miễn thuế nhập khẩu hoặc được hưởng thuế suất ưu đãi thấp hơn mức thuế MFN.
    - Chế độ ưu đãi độ thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences - GSP). Một chương trình miễn thuế quan cho hơn 4.450 sản phẩm từ khoảng 150 nước và lãnh thổ đang phát triển. Luật GSP quy định việc đánh giá hàng năm các mặt hàng và các nước đủ điều kiện. Những hạn định sẽ được đặt ra đối với việc miễn thuế cho một số sản phẩm nhất định nếu việc nhập khẩu tăng lên trên một mức đôla nhất định. Lợi ích của GSP có thể bị hạn chế nếu quốc gia đó duy trì những hàng rào đối với hàng xuất khẩu của Mỹ, từ chối bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hoặc không tuân thủ các quyền công nhân đã được quốc tế công nhận. Luật GSP đã hết hạn ngày 31 tháng 5 năm 1997. Khi GSP lần cuối cùng được gia hạn vào tháng 8 năm 1996, sau khi đã hết hạn hơn một năm, việc miễn thuế đã được khôi phục hiệu lực.
    - Sáng kiến Khu vực Lòng chảo Caribê (Caribbean Basin Initiative - CBI). Quy định việc miễn hoặc giảm thuế quan đối với hầu hết các sản phẩm từ 24 nước ở Trung Mỹ và khu vực Caribe. Những ưu đãi thương mại CBI không phải xét lại hàng năm. Các quốc gia có thể bị mất những lợi ích của CBI trong những điều kiện nhất định.
    - Luật ưu đãi thương mại Andean (Andean Trade Preference Act - ATPA) Luật này dành ưu đãi thuế quan cho các sản phẩm từ Bolovia, Colombia, Ecuador, và Peru. Chương trình này hết hạn vào tháng 12 năm 2001. Các quốc gia mà Mỹ ký hiệp định thương mại trong đó việc giảm thuế quan và các hàng rào thương mại khác, như NAFTA và Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do Mỹ - Ixaren, đã được đề cập trong phần khác của luật thương mại liên quan đến những hiệp định thương mại tương hỗ.
    - Luật Hỗ trợ Phát triển Châu Phi (African Growth and Opportunity Act - AGOA). Luật này cho phép gần như toàn bộ các hàng hoá của 38 nước Châu Phi được nhập khẩu vào Hoa Kỳ miễn thuế và không bị hạn chế về số lượng. Chính quyền Mỹ đang đề nghị Quốc hội gia hạn hiệu lực của Luật này khi hết hạn vào năm 2008.
    - Các hiệp định thương mại tự do song phương. Nhìn chung, hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ những nước có hiệp định thương mại tự do với Hoa Kỳ đều được miễn thuế nhập khẩu hoặc có mức thuế thấp hơn nhiều so với mức thuế MFN.
    - Các ưu đãi thuế quan khác. Hoa Kỳ còn dành ưu đãi thuế quan cho những hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ thuộc diện hưởng lợi của Luật Thương mại các Sản phẩm Ô tô , Hiệp định Thương mại Máy bay Dân dụng , Hiệp định Thương mại các Sản phẩm Dược và những cam kết giảm thuế của Vòng Uruguay đối với hoá chất nguyên liệu trực tiếp của thuốc nhuộm .


    Xem Thêm: Chính sách quản lý nhập khẩu của Mỹ trong những năm gần đây
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Chính sách quản lý nhập khẩu của Mỹ trong những năm gần đây sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status