Tổ chức kế toán CPSX và GTSP tại Cty XDCTGT 842
Lời mở đầu

Xây dựng cơ bản là một trong những nghành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân, chiếm vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nhiều nguồn vốn khác nhau đã và đang được huy động đầu tư cho tất cả các nghành: công nghiệp, nông nghiệp, XDCB, GTVT ., bộ mặt của đất nước đang thay đổi từng ngày, từng giờ bởi việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng diễn ra nhanh chóng ở khắp mọi nơi. Lượng vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm hơn 30% tổng số vốn đầu tư của cả nước đã thực sự tạo ra một động lực cho các doanh nghiệp hoạt động trong nghành công nghiệp xây dựng phát triển. Vấn đề đặt ra là làm sao để quản lý vốn có hiệu quả ,khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất xây lắp phải trải qua nhiều khâu: thiết kế, lập dự toán, thi công, nghiệm thu . với thời gian kéo dài. Chính vì thế, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm vốn đã là một phần hành cơ bản của công tác hạch toán kế toán lại càng có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp xây lắp.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay không chỉ có sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại mà còn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp sản xuất trong nước. Do đó, điều kiện tiên quyết cho một doanh nghiệp tồn tại chính là sự ứng xử giá linh hoạt ,biết khai thác tận dụng khả năng của mình nhằm giảm chi phí tới mức thấp nhất để thu được lợi nhuận tối đa. Muốn vậy, chỉ có hạch toán chi phí và tính giá thành đầy đủ, chính xác mới giúp cho doanh nghiệp phân tích, đánh giá được kết quả kinh doanh, hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất để không ngừng đi lên.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong thời gian thực tập tại công ty XDCTGT 842 em đã đi sâu nghiên cứu và chọn đề tài: "Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty XDCTGT 842 " cho luận văn tốt nghiệp của mình.

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh ngiệp xây lắp.
Chương 2: Tình hình thực tế về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở công ty XDCTGT 842.
Chương 3: Hoàn thiện công tác tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty XDCTGT 842.

Do kiến thức có hạn luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế thiếu sót .Em rất mong nhận được sự nhân xét, phê bình của thầy cô.

Em xin chân thành cảm ơn!



















CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNGVỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP .

1.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM .
Xây dựng cơ bản là một nghành sản xuất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các nghành trong nền kinh tế quốc dân. So với các nghành sản xuất vật chất khác, xây dưng cơ bản có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của nghành.
Sản phẩm xây lắp là công trình, nhà cửa, vật kiến trúc . nơi sản xuất cũng là nơi sau này phát huy tác dụng. Không giống như các sản phẩm khác, sản phẩm xây lắp hoàn thành không nhập kho mà được tiêu thụ ngay theo giá dự toán hoặc giá đã được thỏa thuận với chủ đầu tư từ trước. Nói một cách khác quá trình tiêu thụ sản phẩm được tiến hành trước khi sản phẩm sản xuất ra. Do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm thể hiện không rõ.
Sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp về nhiều mặt. Nó thể hiện bản sắc văn hóa, ý thức thẩm mỹ và phong cách kiến trúc của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Nó đa dạng nhưng mang tính đơn chiếc. Mỗi một công trình được xây dựng theo một kiểu thiết kế kỹ thuật riêng và tại một địa điểm nhất định. Đặc điểm này dẫn đến tính không ổn định trong thi công và lợi nhuận chịu ảnh do điều kiện địa điểm mang lại .Cụ thể: trong xây dựng các doanh nghiệp xây lắp phải di chuyển lao động, máy thi công từ công trình này sang công trình khác và cùng một loại công trình nếu được thi công gần nguồn vật liệu, nguồn lao động thì sẽ có cơ hội hạ thấp chi phí và thu được lợi nhuận cao hơn.
Sản phẩm xây lắp thường có thời gian xây dựng dài, chi phí hoàn thành có giá trị lớn. Đặc điểm này làm cho vốn đầu tư của các doanh nghiệp xây lắp ứ đọng dễ gặp rủi ro khi có biến động giá cả, vật tư, lao động. Bên cạnh đó, quá trình sản xuất xây dựng tiến hành ngoài trời chịu ảnh hưởng của đỉều kiện tự nhiên nên điều kiện lao động nặng nhọc, quá trình thi công dễ dàng bị gián đoạn, chi phí sản xuất không điều hòa trong bốn quí.
Với đặc điểm riêng có của mình, nghành xây lắp rất khó khăn trong việc áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp thống nhất ban hành theo QĐ số 1141/TC/CĐKT ngày 1/11/1995. Để đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý trong các doanh nghiệp xây lắp, Bộ tài chính đã chính thức ban hành chế độ kế toán trong doanh nghiệp xây lắp theo QĐ số 1864/1998/QĐ-BTC ngày 16/12/1998. Chế độ kế toán trong doanh nghiệp xây lắp một mặt tôn trọng các qui định hiện hành của nhà nước về tài chính- kế toán, đảm bảo thống nhất về kết cấu và nguyên tắc hạch toán của chế độ kế toán doanh nghiệp; mặt khác, được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với các qui định hiện hành của cơ chế tài chính, thuế và phù hợp với đặc điểm của sản xuất sản phẩm xây lắp, thỏa mãn yêu cầu quản lý đâu tư xây dựng.
Để hạn chế những tiêu cực trong xây dựng, nhà nước đã ban hành các chế độ chính sách về giá cả, các nguyên tắc phương pháp lập dự toán, các căn cứ ( định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá xây dựng .) để xác định tổng mức đầu tư, tổng dự toán công trình và dự toán cho từng hạng mục công trình. Một trong những điều lệ quản lý đầu tư có hiệu quả nhất là qui chế đấu thầu mà nội dung của nó qui định đối với hầu như gần hết các công trình trước khi giao cho các doanh nghiệp xây lắp thi công phải thông qua tổ chức đấu thầu. Vì vậy, để trúng thầu thi công một công trình ,doanh nghiệp phải xây dựng được gía dự thầu hợp lý sao cho vừa thấp hơn giá trị dự toán công trình nhưng phải vừa có lãi. Chính điều này đã đặt ra vấn đề hết sức cấp bách trong việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Đây là vấn đề quyết định có tính chất sống còn đối với các doanh nghiệp xây lắp trong điều kiện hiện nay.
Tóm lại, đặc điểm riêng có của hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hưởng rất lớn đến công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Nhiệm vụ chủ yếu đặt ra cho công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là phải xác định đúng đối tượng cần tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Vận dụng phương pháp tập hợp chi phí và phương pháp tính giá thành một cách khoa học và hợp lý, đảm bảo cung cấp một cách kịp thời, chính xác đầy đủ các số liệu cần thiết cho công tác quản lý.

1.2 CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
1.2.1 Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
1.2.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp xây lắp là quá trình biến đổi một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất thi công để tạo nên các công trình, hạng mục công trình nhất định.
Các yếu tố về tư liệu lao động, đối tượng lao động dưới sự tác động có mục đích của sức lao động sẽ tạo ra các sản phẩm xây lắp. Để đo lường các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong từng kỳ, nhằm tổng hợp xác định kết quả đầu ra phục vụ yêu cầu quản lý thì mọi hao phí cuối cùng đều tồn tại trong mối quan hệ hàng hóa- tiền tệ và được biểu hiện dưới hình thức giá trị, gọi là chi phí sản xuất.
Như vậy, chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp xây lắp bỏ ra có liên quan đến khối lượng xây lắp trong kỳ.
Bản chất của chi phí xây lắp chính là sự chuyển dịch vốn - chuyển dịch giá trị các yếu tố sản xuất vào đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp. Nó bao gồm tất cả các chi phí mà doanh nghiệp xây lắp phải chi ra để tồn tại và tiến hành các hoạt động sản xuất xây lắp, bất kể đó là các chi phí cần thiết hay không cần thiết, khách quan hay chủ quan. Như vậy, chi phí sản xuất xây lắp không những bao gồm yếu tố lao động sống liên quan đến sử dụng lao động (tiền lương, tiền công ), lao động vật hóa (khấu hao tài sản cố định, chi phí về nguyên, nhiên vật liệu .) mà còn bao gồm một số khoản thực chất là một phần giá trị mới sáng tạo ra (ví dụ: các khoản trích BHXH, BHYT, KFCĐ, các loại thuế không được hoàn trả như thuế giá trị gia tăng không được khấu trừ, thuế tài nguyên, .).
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, nó cần được tập hợp một cách hợp lý phù hợp với kỳ báo cáo và thời gian xây dựng, đưa vào sử dụng để đảm bảo cho công tác quản lý có hiệu quả cao nhất.

1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều khoản chi có nội dung công dụng và mục đích sử dụng không như nhau. Vì vậy, để phục vụ cho công tác quản lý nói chung và kế toán chi phí sản xuất nói riêng, người ta thường phân loại chi phí sản xuất theo những tiêu thức thích hợp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, công dụng kinh tế.
Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế , không kể chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào mục đích gì trong quá trình sản xuất. Trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm các yếu tố chi phí sau đây:


Xem Thêm: Tổ chức kế toán CPSX và giá thành sản phẩm tại công ty XDCTGT 842
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Tổ chức kế toán CPSX và giá thành sản phẩm tại công ty XDCTGT 842 sẽ giúp ích cho bạn.