Hoàn thiện tổ chức công tác Kế toán tập hợp CPSX tính GTSP” tại Cty TNHH NGỌC QUYỀN
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Đức Thiện

8
GVHD Đoàn Thị Thanh Tâm Trường CĐTài chính & QTKD

Lời nói đầu
N
hững năm gần đây cùng với sự đổi mới của đất nước, kế toán một công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả cũng không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và phù hợp với tình hình mới của nền kinh tế. Với vai trò là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng và có hiệu quả nhất trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, hệ thống kế toán ngày càng được hoàn thiện và phục vụ tốt hơn cho yêu cầu quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và vi mô, đáp ứng được yêu cầu quản lý khách quan, trung thực và kiểm soát quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để quản lý một cách có hiệu quả và tốt nhất các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong tình hình cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng đều phải đổi mới thực sự phương thức sản xuất và quản lý, không ngừng phấn đấu để có thể đứng vững trên thị trường đồng thời hoạt động sản xuất kinh doanh phải mang lại lợi nhuận ngày càng cao. Bởi vậy, việc hạ thấp chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn có lãi là mục tiêu phấn đấu hàng đầu của các doanh nghiệp. Cho nên công tác kế toán ở mỗi doanh nghiệp cần phải được đổi mới và hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu đó.
Khi các doanh nghiệp phải tự cạnh tranh để tìm chỗ đứng trên thị trường thì thông tin về chi phí có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp. Qua việc xem xét các thông tin về chi phí dưới góc độ khác nhau, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể tự tìm ra những yếu tố bất hợp lý trong việc sử dụng tài sản, vốn, vật tư, do đó có thể đưa ra các quyết định đúng đắn nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong tương lai. Vì vậy, họ phải nắm bắt thông tin một cách chính xác về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.Mỗi một doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ, trình độ quản lý khác nhau. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đúng, đủ, chính xác , kịp thời sẽ giúp công tác quản lý, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, cung cấp thông tin cho quản lý, từ đó phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Được sự giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Trường CĐ Tài chính – Quản trị kinh doanh và được sự đồng ý của công ty, em đã thực tập thực tập tại Công ty TNHH NGỌC QUYỀN. Tên đề tài “ Hoàn thiện tổ chức công tác Kế toán tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm” tại Công ty TNHH NGỌC QUYỀN

CHUYÊN ĐỀ GỒM 3 PHẦN CHÍNH
Phần I: Cơ sở lý luận của Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Phần II: Thực trạng về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH NGỌC QUYỀN
Phần III: Nhận xét và ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH NGỌC QUYỀN
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.1.Khái niệm về chi phí sản xuất và phân loại chi phí
1.1.1. Phân loại chi phí
1.1.1.1. Phân loại theo tính chất kinh tế của chi phí
(Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố)
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung tính chất kinh tế của chi phí không phân biệt chúng phát sinh ở đâu, dùng vào mục đích gì để chia thành các yếu tố chi phí:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản, công cụ dụng cụ mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất.
- Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền lương, tiền công phải trả, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
- Chí phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định sử dụng cho sản xuất trong doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp chi trả về các dịch vụ mua từ bên ngoài như tiền điện, nước, điện thoại, . phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố trên như chi tiếp khách, .
Cách phân loại này có tác dụng quan trọng đối với việc quản lý chi phí của lĩnh vực sản xuất: Cho phép hiểu rõ cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí, là cơ sở phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, là cơ sở cho việc dự trù hay xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, tiền vốn, huy động sử dụng lao động .
1.1.1.2. Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí
Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau. Mỗi khoản mục chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích, công dụng, không phân biệt nội dung công dụng của chi phí. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành các khoản mục chi phí khác nhau.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm. Không tính vào khoản mục này những chi phí nguyên vật liệu sử dụng vào mục đích chung và những hoạt động ngoài sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các phân xưởng, đội trại sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí trực tiếp bao gồm:
+ Chi phí nhân viên đội trại sản xuất, phân xưởng sản xuất.
+ Chi phí vật liệu.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định.
+Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ Chi phí bằng tiền khác.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho quản lý chi phí sản xuất theo định mức, là cơ sở để kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành theo khoản mục, là cơ sở để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, dịch vụ và định mức chi phí cho kỳ sau.
1.1.1.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm công việc lao vụ sản xuất trong kỳ, bao gồm.
- Chi phí cố định (định phí): Là những chi phí không thay đổi tổng số khi có sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản xuất như chi phí khấu hao tài sản cố định theo phương pháp bình quân, chi phí điện thắp sáng .
- Chi phí biến đổi (biến phí): Là chi phí có thể thay đổi về tổng số, tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
Cách phân loại này có tác dụng quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp để phân tích điểm hoà vốn và phục vụ việc ra quyết định ngắn hạn, dài hạn trong sự phát triển kinh doanh của đơn vị.
Ngoài ra chi phí sản xuất kinh doanh còn được phân loại theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm (gồm chi phí cơ bản và chi phí chung) theo phương pháp tập hợp chi phí vào các đối tượng chịu chi phí (chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp).
Tuỳ vào đặc điểm, tình hình cụ thể cũng như yêu cầu, trình độ quản lý, nhu cầu sử dụng, cung cấp thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mà các doanh nghiệp cần tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức nêu trên.
1.2. Khái niệm giá thành và phân loại giá thành
1.2.1. Khái niệm về giá thành và bản chất của giá thành.
1.2.1.1. Khái niệm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác sản phẩm lao vụ đã hoàn thành.


Xem Thêm: Hoàn thiện tổ chức công tác Kế toán tập hợp CPSX tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH NGỌC QUYỀN
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Hoàn thiện tổ chức công tác Kế toán tập hợp CPSX tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH NGỌC QUYỀN sẽ giúp ích cho bạn.