Kế toán các nghiệp vụ thanh toán , phân tích tình hình & khả năng thanh toán của X.nghiệp khảo sát xây dựng Điện 1
PHẦN MỞ ĐẦU

Cạnh tranh trong thương mại là tất yếu, khách quan mang tính quy luật của kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế tư bản, các cuộc cạnh tranh luôn luôn diễn ra gay gắt và khốc liệt. Hậu quả của nó là sự phá sản của hàng loạt công ty, là chiến tranh và là khủng hoảng kinh tế. Nước ta, tuy đang trong những năm đầu chuyển hướng theo kinh tế thị trường, các cuộc cạnh tranh thương mại đã và đang diễn ra vô cùng gay gắt. Tuy nhiên, không phải bất cứ một công ty hay doanh nghiệp nào khi tham gia vào cuộc chiến cạnh tranh cũng đều có nguy cơ thất bại. Thắng lợi trong cạnh tranh cũng chính là sự thành công trong công việc kinh doanh của họ. Nhưng vấn đề là ở chỗ muốn dành được thắng lợi trong cạnh tranh hay sự thành công trong kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải làm những gì?
Những năm qua, cùng với sự đổi mới sâu sắc của cơ chế quản lý kinh tế, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp đã thực sự phải vận động để tồn tại và đi lên bằng chính thực lực của mình. Cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải năng động, kinh doanh phải có lãi, nếu không sẽ không thể đứng vững trước sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp khác. Một trong số những điều quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó là phải tổ chức tốt các nghiệp vụ kế toán về thanh toán, phân tích tình hình và khả năng thanh toán của chính bản thân doanh nghiệp để từ đó nắm và làm chủ được tình hình tài chính của mình, thông qua đó có những biện pháp tích cực xử lý tốt tình hình công nợ.
Mặt khác, hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng luôn diễn ra trong mối liên hệ phổ biến với hoạt động của các doanh nghiệp khác và các cơ quan quản lý của Nhà nước, mối quan hệ này tồn tại một cách khách quan trong tất cả các hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp từ quá trình mua sắm các loại vật tư, công cụ dụng cụ, tài sản cố định . đến quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hay cung cấp dịch vụ, quá trình mua bán các loại chứng khoán . Từ đó có thể nói, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắn liền với các nghiệp vụ thanh toán.
Xuất phát từ những vấn đề trên, qua quá trình thực tập ở Xí nghiệp khảo sát xây dựng Điện I, được sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo, PGS.TS Phạm Thị Gái và sự giúp đỡ của các cán bộ kế toán trong công ty, em đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp của mình với đề tài:
“Tổ chức kế toán các nghiệp vụ thanh toán, phân tích tình hình và khả năng thanh toán của Xí nghiệp khảo sát xây dựng Điện I”.
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán các nghiệp vụ thanh toán, phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp .
Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán các nghiệp vụ thanh toán( với người bán người mua và ngân sách Nhà Nước) và phân tích tình hình, khả năng thanh toán của Xí nghiệp khảo sát xây dựng Điện I.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán các nghiệp vụ thanh toán và tăng cường khả năng thanh toán tại Xí nghiệp khảo sát xây dựng Điện I.










CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CÁC NGHIỆP VỤ THANH TOÁN, PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP.

I-Các vấn đề chung về thanh toán:
1.Khái niệm chung về thanh toán
Theo nghĩa chung nhất thanh toán là việc dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ về kinh tế- tài chính giữa các bên phải trả và bên nhận tiền ( các trao đổi mua bán đơn thuần không thuộc về quan hệ tài chính , chỉ có các quan hệ thanh toán bằng cách chấp nhận, từ chối, thưởng, phạt vật chất thông qua việc mua bán có liên quan và sử dụng quỹ tiền tệ mới là quan hệ tài chính ).
Cụ thể ta có thể phân tích thanh toán ra thành hai loại hình với đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất là các hoạt động thanh toán đơn thuần. Đây là hình thức thanh toán phi tài chính hay còn gọi là giản đơn,phát sinh trong quá trình mua bán, trao đổi và là quan hệ thanh toán chấp nhận thông qua các hình thức trao đổi bằng hiện vật tiền mặt Quan hệ này chấm dứt sau khi các bên dã đạt được mục đích của mình.
Thứ hai là các hoạt động thanh toán tài chính . Đây là các hoạt động thanh toán trong quan hệ trao đổi, thưởng phạt dưới các hình thức tiền mặt, hiện vật nhưng nó phải dựa trên cơ sở hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ (nguồn vốn tiền tệ) như : quỹ tiền mặt, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, nguồn vốn vay

2.Vai trò – ý nghĩa, vị trí của hoạt động thanh toán trong công tác quản lý tài chính của DN:
Thanh toán là một bộ phận quan trọng trong công tác tài chính , ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của công tác này.
Hoạt động thanh toán phát sinh ngay từ đầu quá trình sản xuất đến tận khâu cuối cùng của quá trình này thể hiện ở mối quan hệ dưới đây:
+Trong quan hệ thanh toán với nhà cung ứng: sự chậm chễ thanh toán gây ảnh hưởng đến kết quả sản xuất do hàng bị trả chậm hoặc do tình trạng gián đoạn trong sản xuất gây ra.
+Trong quan hệ thanh toán với Nhà Nước hoặc cấp trên: các khoản thanh toán không đúng hạn hoặc gian lận trong thanh toán có thể là nguyên nhân của những quyết định gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN( thu hồi giấy phép kinh doanh, bị phạt, hoặc có thể bị truy tố trước pháp luật)
+Trong quan hệ thanh toán với khách hàng: DN cần tránh để bị chiếm dụng vốn, tạo vòng quay vốn nhanh.
+Trong quan hệ thanh toán với công nhân viên: việc thanh toán đúng hạn tạo thuận lợi cho sản xuất nhờ nâng cao ý thức người lao động.

3.Nhiệm vụ hạch toán các nghiệp vụ thanh toán:
Phản ánh và theo dõi kịp thời các nghiệp vụ thanh toán phát sinh trong kinh doanh chi tiết theo từng đối tượng, từng khoản nợ theo thời gian thanh toán.
Ghi chép kịp thời trên hệ thống chứng từ sổ sách chi tiết, tổng hợp của phần hành các khoản nợ phải thu phải trả.
Thực hiện giám sát chế độ thanh toán công nợ và tình hình chấp hành các kỉ luật thanh toán tài chính tín dụng.
Tổng hợp và xử lý nhanh thông tin về tình hình công nợ có khả năng khó trả, khó thu để quản lý tôt công nợ, tránh dây dưa công nợ và góp phần cải thiện tốt tình hình tài chính của DN.

4.Phân loại các nghiệp vụ thanh toán:
Có 3 cách phân loại căn cứ vào các tiêu chí khác nhau:
- Dựa vào đặc điểm của hoạt động thanh toán, các nhiệp vụ thanh toán có thể chia thành 2 loại:
+Thanh toán các khoản phải thu
+Thanh toán các khoản phải trả
- Dựa vào đối tượng thanh toán, các nghiệp vụ thanh toán có thể chia thành các loại sau:
+Thanh toán với nhà cung cấp.
+Thanh toán với cấp trên và với ngân sách Nhà nước.
+Thanh toán với khách hàng.
+Thanh toán với công nhân viên chức trong doanh nghiệp .
+Thanh toán nội bộ doanh nghiệp .
+Thanh toán với ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
+Thanh toán với các đối tượng khác.
- Dựa vào thời hạn thanh toán,các nghiệp vụ thanh toán chia thành hai loại:
+Thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
+Thanh toán các khoản nợ dài hạn.
5.Nguyên tắc hạch toán các nghiệp vụ thanh toán:
Phải theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu, phải trả theo từng đối tượng, thường xuyên tiến hành đối chiếu, kiểm tra, đôn đốc việc thanh toán được kịp thời.
Đối với các đối tượng có quan hệ giao dịch, mua bán thường xuyên, có số dư nợ lớn thì định kỳ hoặc cuối tháng kế toán cần kiểm tra, đối chiếu từng khoản nợ phát sinh, số đã thanh toán và số còn phải thanh toán, có xác nhận bằng văn bản.
Đối với các khoản nợ phải thu, phải trả có gốc ngoại tệ, cần theo dõi về nguyên tệ và quy đổi theo “ đồng ngân hàng Nhà nước VN”, cuối kỳ phải điều chỉnh số dư theo tỉ giá thực tế.
Cần phân loại các khoản nợ phải trả, phải thu theo thời gian thanh toán cũng như theo từng đối tượng nhất là những đối tượng có vấn đề để có kế hoạch và có biện pháp thanh toán phù hợp.
Tuyệt đối không được bù trừ số dư giữa 2 bên Nợ, Có của một số tài khoản(TK) thanh toán như TK131,331 mà phải căn cứ vào số dư chi tiết từng bên để lấy số liệu ghi vào các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán .

6.Các hình thức thanh toán:
- Thanh toán bằng tiền mặt: Là hình thức thanh toán trực tiếp các khoản mua, bán, hợp đồng thông qua việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt. Hình thức thanh toán này thực tế chỉ phù hợp với các loại hình trong giao dịch với số lượng nhỏ, đơn giản bởi đối các khoản mua bán có giá trị lớn việc thanh toán trở nên phức tạp và không đảm bảo an toàn.
Thông thường hình thức này được áp dụng trong thanh toán với công nhân viên chức, với nhà cung cấp hoặc khách hàng có giá trị giao dịch nhỏ
Thanh toán bằng tiền mặt bao gồm các loại hình thanh toán như: thanh toán bằng tiền Việt Nam, thanh toán bằng ngoại tệ các loại, thanh toán bằng ngân phiếu, hối phiếu ngân hàng và các loại giấy tờ có giá trị như tiền mặt và thanh toán bằng vàng, bạc, đá quý

- Thanh toán không dùng tiền mặt: Công việc thanh toán chỉ liên quan đến hai bên mua và bán, trong thanh toán không dùng tiền mặt ( thanh toán chuyển khoản ) thì tiền thực hiện các chức năng thanh toán, ngoài hai bên mua và bán còn có ngân hàng .
Thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó đảm bảo an toàn tuyệt đối vốn bằng tiền trong các doanh nghiệp , tiết kiệm lao động, chống tham ô, lạm phát, ổn định giá cả xã hội và góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Các hình thức không dùng tiền mặt để thanh toán gồm: séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc chuyển tiền, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng L/C ( Letter credit ).

7.Nội dung và nguyên tắc hạch toán các nghiệp vụ thanh toán:
7.1-Nội dung các khoản thanh toán:
Các khoản thanh toán của doanh nghiệp được chia làm 2 loại khác nhau: Các khoản phải thu và các khoản phải trả. Tuy nhiên các khoản thanh toán này đều giống nhau ở chỗ tồn tại trong sự cam kết giữa chủ nợ với con nợ theo từng khoản tiền phải thanh toán về phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán .
Các khoản phải thu của doanh nghiệp gồm: Phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác, tạm ứng, tài sản thế chấp, ký cược, ký quỹ và thuế GTGT được khấu trừ.
Các khoản phải trả của doanh nghiệp gồm: Phải trả người bán, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, phải trả nội bộ, phải trả công nhân viên, chi phí phải trả, các khoản tiền vay, nhận ký quỹ, ký cược dài hạn và các khoản phải trả khác.

7.2-Nguyên tắc hạch toán các nghiệp vụ về thanh toán:
Theo dõi thanh toán từng đối tượng, từng khoản thanh toán nhằm đôn đốc thực hiện nghiêm chỉnh chế độ thanh toán đúng thời hạn.
Cần có biện pháp thúc đẩy, đôn đốc việc chi trả và thu hồi các khoản công nợ kịp thời. Chấp hành kỷ luật thanh toán và thu nộp ngân sách, giải quyết dứt điểm các khoản công nợ dây dưa, tồn đọng, cần xử lý hợp lý các khoản công nợ khó đòi.



Xem Thêm: Kế toán các nghiệp vụ thanh toán , phân tích tình hình & khả năng thanh toán của X.nghiệp khảo sát x
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Kế toán các nghiệp vụ thanh toán , phân tích tình hình & khả năng thanh toán của X.nghiệp khảo sát x sẽ giúp ích cho bạn.