Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp CPSX & tính GTSP tại Cty may 10
MỞ ĐẦU

1. Ý nghĩa và sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Công ty May 10 là một doanh nghiệp nhà nước với chức năng chính là sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng may mặc đã và đang cố gắng nắm bắt những cơ hội và vượt qua những khó khăn mà xu thế chung của nền kinh tế mang lại để phát triển. Trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh thì mục tiêu của các doanh nghiệp không phải là tối đa hoá lợi nhuận mà là tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp với mức lợi nhuận hợp lý. Do đó, để sản phẩm của doanh nghiệp có được vị trí vững chắc trên thị trường tiêu dùng đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn nghiên cứu và thực hiện các biện pháp tiết kiệm chi phí , hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm với giá bán phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Một trong những biện pháp nhằm quản lý chi phí , quản lý giá thành sản phẩm đó là kế toán mà trong đó, kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm luôn được xác định là khâu trọng tâm của toàn bộ công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất. Vì vậy, hoàn thiện công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm là việc làm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hoàn thiện công tác kế toán trong doanh nghiệp . Trong quá trình thực tập tại Công ty May 10, em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tập hơp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty May 10” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.

2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là khái quát những cơ sở lý luận chung và dựa vào đó để nghiên cứu thực tế, phản ánh những mặt thuận lợi, khó khăn tại một doanh nghiệp , đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm cho các sản phẩm sản xuất.



3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận về hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất, đồng thời qua nghiên cứu thực trạng công tác kế toán để xác định phương pháp tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm đúng đắn, phù hợp với Công ty May 10.
Đề tài tập trung nghiên cứu ở nội dung: tập hợp CPSX và tính giá thành của sản phẩm sơ mi sản xuất tại Xí nghiệp thành viên 1 của Công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lê nin, cùng với các phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp thống kê, hệ thống hoá để khái quát tình hình thực tế công tác kế toán tại Công ty May 10 và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm trong Công ty.

5. Bố cục của luận văn
Để làm rõ những vấn đề trên, luận văn được trình bày theo ba phần chính như sau:
Phần I: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Phần II: Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty May 10.
Phần III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty May 10 - Gia Lâm - Hà Nội.

PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

I. CHI PHÍ SẢN XUẤT
1. Khái niệm chi phí sản xuất
Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có đầy đủ ba yếu tố cơ bản: Tư liệu lao động (như máy móc, thiết bị .), đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu ) và lao động của con người. Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản vào sản xuất đồng thời cũng là quá trình hao phí vật chất và sức lao động cho SXKD. Tương ứng với việc sử dụng TSCĐ là chi phí khấu hao TSCĐ; tương ứng với việc sử dụng nguyên vật liệu là chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu; tương ứng với việc sử dụng lao động là tiền lương, tiền công phải trả và các khoản chi phí liên quan đến người lao động.
Trong điều kiện tồn tại quan hệ hàng hoá, tiền tệ thì mọi chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra đều được thể hiện bằng tiền. Trong đó, chi phí về tiền công là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống; còn chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí nguyên, nhiên, vật liệu là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động vật hoá.
Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của lao động sống và lao động vật hoá và các chi phí khác mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.

2. Phân loại chi phí sản xuất
2.1. Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
-Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về các loại đối tượng lao động là nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản . mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
-Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền công và các khoản khác phải trả cho người lao động trong doanh nghiệp .
-Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ số phải trích khấu hao trong kỳ đối với tất cả các loại tài sản cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp .
-Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài như tiền điện nước, điện thoại . phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp .
-Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ số chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài bốn yếu tố chi phí nói trên.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp lập được Báo cáo CPSX theo yếu tố chi phí , lập được các dự toán, kế hoạch cung ứng vật tư nhằm đảm bảo cho hoạt động SXKD tại tất cả các khâu trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện đúng tiến độ.

2.2. Phân loại CPSX theo quan hệ với khối lượng sản phẩm
-Chi phí biến đổi (biến phí): Là những chi phí mà khi khối lượng sản phẩm sản xuất tăng hay giảm thì số tiền chi phí cũng tăng hay giảm theo, còn chi phí chi một sản phẩm thì hầu như không đổi.
-Chi phí cố định (định phí): là những chi phí mà khi khối lượng sản phẩm sản xuất tăng hay giảm thì số tiền chi phí hầu như không đổi nhưng chi phí cho một sản phẩm thì thay đổi theo chiều ngược lại.
Cách phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lập dự toán chi phí , phục vụ cho việc phân tích chi phí và công tác quản trị kế toán .

2.3. Phân loại CPSX theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
-Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí như sản phẩm, địa điểm phát sinh chi phí . Những chi phí này được hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí .
-Chi phí gián tiếp: Là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí như nhiều sản phẩm, nhiều địa điểm phát sinh chi phí . Các chi phí này được tập hợp riêng để cuối kì phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu chi phí một cách đúng đắn và hợp lý.

2.4. Phân loại CPSX theo lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành ba loại:
-Chi phí sản xuất kinh doanh
-Chi phí hoạt động tài chính
-Chi phí hoạt động bất thường
Tiêu chuẩn phân loại này có tác dụng trong việc xác định được các trọng điểm quản lý hiệu quả trên các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp .

2.5. Phân loại CPSX theo công dụng, mục đích của chi phí
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành các khoản mục giá thành sau:
-Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
-Chi phí nhân công trực tiếp
-Chi phí sản xuất chung
-Chi phí bán hàng
-Chi phí quản lý doanh nghiệp
Cách phân loại này được sử dụng rộng rãi tại các doanh nghiệp nhằm phục vụ cho việc xây dựng hệ thống các tài khoản kế toán để tính giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch vụ và tập hợp chi phí sản xuât kinh doanh trong kỳ.
Trên thực tế, tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của mỗi doanh nghiệp mà chi phí sản xuất được phân loại theo các tiêu thức thích hợp.


3. Đối tượng kế toán CPSX
Đối tượng tập hợp CPSX là phạm vi giới hạn để kế toán có thể tập hợp được CPSX thực tế phát sinh trong kỳ.
Việc xác định đối tượng tập hợp CPSX ở từng doanh nghiệp tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động, yêu cầu và trình độ quản lý cũng như quy trình công nghệ sản xuất của từng ngành, từng doanh nghiệp . Song, mục đích cuối cùng của công tác tập hợp chi phí là tính được giá thành sản xuất của sản phẩm. Do đó, đối tượng tập hợp CPSX có thể là:
- Tập hợp CPSX để tính giá thành của từng nhóm sản phẩm cùng loại.
- Tập hợp CPSX để tính giá thành theo từng loại sản phẩm.
- Tập hợp CPSX để tính giá thành theo đơn đặt hàng.
- Tập hợp CPSX theo từng địa điểm phát sinh chi phí (theo từng phân xưởng, từng tổ, đội sản xuất .)

4. Phương pháp kế toán các khoản mục CPSX
4.1. Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí NVL trực tiếp
Đối với những chi phí NVL trực tiếp có liên quan trực tiếp tới một đối tượng tập hợp chi phí thường được tổ chức tập hợp theo phương pháp trực tiếp.
Trong trường hợp NVL sử dụng để sản xuất sản phẩm có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí khác nhau thì kế toán phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp theo các tiêu thức hợp lý. Đối với chi phí nguyên liệu chính có thể lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ là: chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng sản phẩm sản xuất . Với chi phí vật liệu phụ, tiêu chuẩn phân bổ có thể là: chi phí định mức, chi phí kế hoạch, chi phí nguyên liệu chính .


Xem Thêm: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp CPSX & tính giá thành sản phẩm tại công ty may 10
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp CPSX & tính giá thành sản phẩm tại công ty may 10 sẽ giúp ích cho bạn.