Kế toán thuế GTGT ở Công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội
CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

I.SỰ RA ĐỜI CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG.
1. Lịch sử ra đời của thuế GTGT
Thuế GTGT là loại thuế gián thu có nguồn gốc từ thuế doanh thu được một người Đức tên là Carl Frendrich Vol Siemens nghiên cứu và đưa vào lý luận chung năm 1918. Năm 1947 thuế GTGT được đề cập trong tác phẩm về cải tổ hệ thống thuế của nhà kinh tế người Mỹ tên là Chao. Ở Nhật năm 1953 người ta cũng đã nghiên cứu và đưa ra một bộ luật về thuế GTGT nhưng khi đó không được Quốc Hội thông qua. Thuế GTGT được áp dụng đầu tiên thay cho thuế doanh thu vào ngày 1/7/1954 tại Pháp.
Sau Pháp thuế GTGT nhanh chóng phổ biến rộng rãi trên thế giới và trở thành nguồn thu chủ yếu quan trọng cho ngân sách nhà nước ở nhiều quốc gia. Hiện nay theo tài liệu của IMF có trên 120 nước áp dụng sắc thuế này. Ở Châu Á chỉ tính riêng trong khối các nước ASEAN có 5 nước áp dụng đó là: Indonesia, Philipin, Thailan, Singapo, Vietnam.
2.Sự ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam
2.1. Sự cần thiết áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam.
2.11. Nhược điểm của thuế doanh thu .
Thuế doanh thu là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động công thương nghiệp, dịch vụ thay cho chế độ thu quốc doanh, thuế doanh thu , thuế buôn chuyến được quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 30/6/1990 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1990. Cùng với sự đi lên của nền kinh tế bên cạnh những mặt mạnh đã phát huy của thuế doanh thu là: Góp phần động viên nguồn thu nhập tương đối ổn định, được áp dụng thống nhất với mọi thành phần kinh tế, biện pháp tính thuế đơn giản, khả năng kiểm tra thu nộp thuế dễ dàng thuế doanh thu càng ngày càng biểu hiện nhiều nhược điểm của nó:
+ Biểu thuế có nhiều mức thuế suất: biểu thuế được bổ xung tháng 7/1993 có 18 mức thuế suất (từ 0% đến 40%)với 125 nhóm ngành hàng khác nhau. Đến tháng 10/1995 biểu thuế suất được sửa đổi bổ xung vẫn còn 11 mức thuế suất (từ 0.5% đến 30%) với 110 nhóm hàng. Điều này đã làm cho việc tính và thu thuế rất phức tạp. Việc áp dụng nhiều mức thuế suất dẫn đến tình trạng khó xác định các tiêu thức để xắp xếp các loại hàng hoá, dịch vụ vào các mức thuế suất phù hợp đồng thời công việc hạch toán kế toán khó khăn hơn.
+ Thuế doanh thu đánh trùng lắp chồng chéo qua mỗi khâu, thuế đánh trên thuế. Đây là nhược điểm cơ bản nhất của thuế doanh thu . Cùng một loại hàng hoá nếu trải qua ít lần luân chuyển thì tổng số thuế mà người tiêu dùng phải chịu sẽ thấp hơn trường hợp luân chuyển nhiều lần. Nhận biết được nhược điểm này nhà nước ta đã khắc phục bằng cách quy định thuế suất thấp để tránh đội giá, và đối với kinh doanh thương nghiệp nhà nước đã xử lý bằng phương pháp tính thuế dựa trên số chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Tuy đã có biện pháp nhưng đây mới chỉ là biện pháp tình thế cho nên về cơ bản vẫn chưa khắc phục toàn bộ những tồn tại của loại thuế này.
+ Đối với hàng xuất khẩu chỉ được miễn thuế doanh thu ở khâu sản xuất cuối cùng còn các khâu khác vẫn phải nộp thuế bình thường. Điều này ảnh hưởng sự cạnh tranh về giá, không khuyến khích được xuất khẩu, làm giảm nguồn thu ngân sách, ảnh hưởng đến các mối quan hệ kinh tế quốc tế.
+ Thuế doanh thu chưa có sự thống nhất ràng buộc lẫn nhau, thuế độc lập nhau ở từng khâu từ sản xuất đến lưu thông và tiêu dùng. Do đó không thể kiểm tra thuế đã nộp ở khâu trước.
+ Thuế doanh thu có tính trung lập không cao do có nhiều mức thuế suất, chính sách miễn giảm rộng gây tác động không tốt đến việc thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuế.
+Đối với thuế doanh thu khi nộp thuế khâu sau không được khấu trừ thuế khâu trước nên không khuyến khích được các cơ sở thực hiện tốt chế độ hoá đơn chứng từ dễ thất thu thuế.
2.12. Xu hướng hội nhập với nền kinh tế quốc tế.
Xuất phát từ tình hình kinh tế của nước ta với xu hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá hội nhập nền kinh tế quốc tế trong thời đại thị trường mở hiện nay thì việc áp dụng thuế doanh thu không còn phù hợp. Nhất là trong đIều kiện hiện nay khi nước ta đang tham gia vào các tổ chức thương mại khu vực và thế giới như AFTA, APEC tiến tới tham gia vào WTO. Nếu cứ tiến hành thu theo thuế doanh thu thì trước tiên là ta đã lạc hậu so với các nước, sự khó đuổi kịp tiến trình đi lên của thế giới.Và khi đã lạc hậu rồi thì khó có thể thu hút được sự đầu tư của các nước khác, đIều đó kéo theo bao nhiêu điều khác nữa ta còn chưa thể lường hết được. Yêu cầu đặt ra phải có sắc thuế mới khắc phục những hạn chế của thuế doanh thu và đạt được những yêu cầu mới: bình đẳng, công khai, dễ áp dụng mà lại tránh thất thu thuế đồng thời phù hợp với tiến trình quốc tế hoá.
2.13. Ưu điểm của thuế giá trị gia tăng.
Là một loại thuế gián thu cho nên thuế GTGT của thuế dán thu đảm bảo cho mọi người có thể tự do lựa chọn hàng hóa, quyết định tiêu dùng như thế nào đều phải chịu thuế. Thuế GTGT tránh được mối quan hệ trực tiếp giữa người tiêu dùng, người chịu thuế, với cơ quan thuế có phần dễ thu hơn thuế trực thu. Do thuế ẩn trong giá bán nên người chịu thuế ít cảm nhận được ngay đầy đủ gánh nặng của thuế này. Về mặt quản lý thuế GTGT không quan tâm tới các khoản chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nên chi phí sản xuất có phần thấp hơn thuế trực thu khi áp dụng.
Ưu điểm chính.
+Giảm số lượng mức thuế suất từ 11 mức thuế suất còn 4 mức thuế suất (0%, 5%, 10%, 20% ).
Có ý kiến cho rằng việc giảm số lượng mức thuế suất gây sức ép về mức thuế suất .
Thật ra điều này là phù hợp mặc dù giảm thuế suất nhưng theo hướng có lợi cho các doanh nghiệp , dẫn đến khuyến khích cho các doanh nghiệp gia tăng sản xuất kinh doanh.
+ Thuế giá trị gia tăng(GTGT) không đánh trùng lắp nên góp phần khuyến khích chuyên môn hoá nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.
+ Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính vào phần vốn nên khuyến khích các tổ chức cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nước ta trong thời gian tới.
+ Là thuế tiêu dùng, được áp dụng rộng rãi, có đối tượng thu rất rộng nên sẽ là nguồn thu chủ yếu ổn định cho ngân sách nhà nước. Do là thuế tiêu dùng nên người chịu thuế là người tiêu dùng còn người sản xuất kinh doanh chỉ là người nộp thuế nên không gây ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh.
+ Thuế GTGT đảm bảo công bằng giữa hàng hoá trong nước và hàng hoá nhập khẩu, hơn nữa kết hợp với thuế xuất nhập khẩu để bảo vệ hàng trong nước.
+ Với thuế suất 0% và thoái trả lại toàn bộ số thuế GTGT đối với hàng xuất khẩu thuế GTGT đã phần nào khuyến khích việc sản xuất hàng xuất khẩu tăng thị phần hàng Việt Nam trên thị trường thế giới. Đó là một liều thuốc kích thích mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Ngược lại nó không khuyến khích nhập khẩu bừa bãi vì hàng nhập khẩu sẽ chịu thuế GTGT sau khi đã chịu thuế nhập khẩu, do đó nó có tác động tích cực bảo vệ sản xuất kinh doanh hàng nội địa. Nó kích thích vai trò hội nhập quốc tế, cho phép chúng ta nói tiếng nói chung với các nước trong khu vực và thế giới.
+ Đối với cơ quan thuế thuế GTGT cho phép chống trốn lậu thuế tạo sự kiểm soát lẫn nhau về thuế giữa các đơn vị có liên quan đến nhau trong cung ứng hàng hoá dịch vụ.
+ Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện dựa vào hoá đơn đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán đưa hoá đơn ghi đúng, ghi đủ khắc phục tình trạng thông đồng giữa người bán và người mua để trốn thuế đạt hiệu quả cao bởi vì nếu giai đoạn trước không nộp thuế thì giai đoạn sau sẽ bị đánh nặng hơn và tổng số thuế sẽ cao hơn.Việc khấu trừ thuế đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tích cực mua sắm thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.
+ Đối với người nộp thuế do có quyền tự kiểm tra tự kê khai và nộp thuế . do đó tạo được tâm lý và cơ sở pháp lý cho việc nâng cao tính tự nguyện, tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người nộp thuế
Đây là những điểm mạnh hơn hẳn của thuế GTGT so với thuế doanh thu .
Tóm lại trong các sắc thuế gián thu, thuế GTGT được đánh giá là loại thuế có nhiều tiến bộ nhất, mang lại nguốn thu ổn định cho ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và đảm bảo tính trung lập cao, về


Xem Thêm: Kế toán thuế GTGT ở Công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Kế toán thuế GTGT ở Công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội sẽ giúp ích cho bạn.