HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ QUA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TỪ 1995-2000

CHƯƠNG II
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ QUA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TỪ 1995-2000
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VIETCOMBANK HOẶC VCB)
1. Một vài nét khái quát về VietcomBank.
VietcomBank được thành lập và đi vào hoạt động từ 1963 với tư cách là một Ngân hàng chuyên doanh đổi ngoại tệ. Từ 1988 trở về trước, VietcomBank là Ngân hàng duy nhất thực hiện trức năng một trung tâm thanh toán quốc tế phục vụ quan hệ kinh tế đối ngoại thông qua các nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, thanh toán xuất nhập khẩu và của dịch vụ Ngân hàng.
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khi 2 pháp lệnh Ngân hàng có hiệu lực hoạt động của VietcomBank đã được đặt trong cơ chế mới – cơ chế thị trường, có sự cạnh tranh của rất nhiều các Ngân hàng.
Hiện nay VietcomBank được Nhà nước xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt, là thành viên của hiệp hội Ngân hàng Châu Á với phương châm luôn mang đến cho khách hàng sự thành đạt, VietcomBank phát triển chi nhánh tại tất cả các thành phố chính, bải cảng quan trọng và trung tâm thương mại, duy trì quan hệ đại lý với hơn 1300 Ngân hàng tại hơn 85 nước trên thế giới trong hệ thống máy vi tính hịên đại nhất trong các Ngân hàng Việt Nam, được nối mạng SWIFT, đặc biệt có một đội ngũ cán bộ nhiệt tình, được đào tạo lành nghệ.
Ngân hàng có mạng lưới chi nhánh gọn nhẹ, được mở rộng phù hợp với điền kiện và nhu cầu phát triển kinh tế của các địa phương. Năm đầu đổi mới, VietcomBank có 9 chi nhánh. Hiện nay hệ thống tổ chức của VietcomBank bao gồm.
-VietcomBank trung ương và sở giao dịch tại Hà Nội
-22 chi nhánh trên cả nước
-Một Công ty cho thuê tài chính, một Công ty đầu tư và khai thác tài sản
- 3 đơn vị liên doanh với nước ngoài
Ngân hàng liên doanh với Hàn Quốc
Công ty liên doanh với Singapore Vietcombank Tower
Công ty cho thuê tài chính với Nhật Vinalease
- Một Công ty tài chính tại Hongkong, 3 văn phòng đại diện tại liên doanh Nga, Pháp và Singapore.
- Trên 20 phòng giao dịch trực thuộc các chi nhánh.
Trong những năm qua mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính tiến tệ Châu Á, nền kinh tế Việt Nam vẫn ổn đinh và phát triển. Về lĩnh vực Ngân hàng, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh cho các tổ chức tài chính. Hai bộ luật Ngân hàng của Việt Nam có hiệu lực thi hành từ 01-10-1998 tạo thành hành lang pháp lý và cơ sở cho hoạt động Ngân hàng. Tận dụng những điền kiện thuận lợi trên, khắc phục những yếu kém bản thân cũng như khó khăn của môi trường, VietcomBank đã tiếp tục ổn định để đi lên và đã đạt những mục đích kinh doanh đề ra như tăng trưởng nguồn vốn, tăng dư nợ tín dụng và tăng thị phần thanh toán, giảm nợ quá hạn v v
2. Giới thiệu chung về hoạt động của Vietcombank
Nền kinh tế Việt Nam năm 2000 phát triển tương đối khả quan, nhiều chỉ tiêu kinh tế đã được thực hiện vượt xa so với năm 1999; tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,7% (năm 1999 đạt 4,8%); sản xuất công nghiệp tăng 15,5%; kim ngạch xuất khẩu đạt 14,3 tỷ USD, tăng 24,0%; kim ngạch nhập khẩu đạt 15,2 tỷ USD, tăng 30,8%. môi trường kinh doanh cũng tạo thêm kênh dẫn vốn mới cho nền kinh tế; Luật doanh nghiệp mới với nhiều điểm ưu việt có hiệu lực thi hành đã làm tăng nhanh số doanh nghiệp mới được thành lập, tham gia vào hoạt động kinh tế; Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết đã mở ra nhiều cơ hội; triển vọng cho các nhà doanh nghiệp; nhiều chính sách chế độ được ban hành, chỉnh sửa đã tạo môi trường pháp lý, điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động và phát triển như: điều chỉnh Luật thuế VAT, Luật khuyến khích đầu tư, chính sách mới về trang trại .
Hoạt động ngân hàng trong năm qua đã có những bước chuyển biến tích cực. Những chỉ tiêu hoạt động chính của ngành đạt mức tăng trưởng khá: Huy động vốn tăng 29% (kế hoạch là 20-22%), dư nợ cho nền kinh tế tăng 25% (kế hoạch là 18-20%). Thị trường mở đã bước vào hoạt động. Tình trạng ứ đọng vốn tiền đồng trong các NHTM được khắc phục. Cơ chế điều hành đã từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong các mặt hoạt động của các NHTM. Các NHTMQD đã xây dựng xong đề án tái cơ cấu cho mình nhằm nâng cao năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh để bước vào hội nhập quốc tế. Việc củng cố, tổ chức lại các NHTMCP vẫn được chú trọng và duy trì.
Hoà vào thành tích chung của toàn ngành, trong năm 2000 NHNT đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh doanh, đạt được những kết quả đáng khích lệ trên các mặt công tác, cụ thể như sau:
2.1 Huy động
Tổng nguồn vốn tăng trưởng mạnh và liên tục. Đến cuối tháng 12/2000 tổng nguồn vốn của NHNT đạt 66.618 tỷ quy VNĐ, tăng 45,3% so với cuối năm 1999. Nếu loại trừ yếu tố tỷ giá tăng thì tổng nguồn vốn vẫn tăng ở mức 41,7% - vượt chỉ tiêu kế hoạch đặt ra là: 25%.
Nguồn vốn ngoại tệ phát triển mạnh, đạt 3.395 USD (tương đương 49.229 tỷ VND), tăng 43,7% trong tổng nguồn vốn. Nguồn vốn tiền đồng đạt 17.389 tỷ đồng, chiếm 25,1%. Trong môi trường kinh doan hiện nay, nguồn vốn ngoại tệ lớn đang tạo lợi thế cho NHNT, tuy nhiên về lâu dài NHNT cần phải có sách lược nâng cao tỷ trọng nguồn vốn đồng tiền lên để đảm bảo sự phát triển bền vững của NHNT. Nguồn vốn huy động từ nên kinh tế (thị trường I) của NHNT chiếm tỷ lệ cao so với toàn nghành và so với khối 4 ngân hàng TMQD, chiếm tương ứng khoảng 24,7% và 32,0% (năm 1999 khoảng 23,1% và 29,6%).
2.2 Tín dụng
Sự chững lại trong tấc độ tăng trưởng tín dụng năm 1999 đã được thay bằng tốc đọ tăng trưởng khá cao trong năm 2000. Tổng dư nợ cho vay đạt 15.634 tỷ quy đ, tăng 36,0%, tăng nhanh hơn so với tốc độ chung của toàn nghành ngân hàng (25%). Doanh số đạt 38.371 tỷ quy đ, tăng35,1%; doanh số thu nợ đạt 34.235 tỷ tăng 23%. Thị phần tín dụng của NHNT trong tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế của toàn nghành ngân hàng đạt 8,8 % , tăng hơn so với con số 8,3% của năm ngoái. Kết quả trên có được, một mặt là do việc liên tiếp hạ lãi suất cho vay đã khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường vay vốn đầu tư, và nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản, thu mua gạo xuất khẩu tăng lên; mặt khác, do NHNT đã tăng cường thực hiện các giải pháp về chính sách khách hàng như chủ động tích cực mở rộng đối tượng khách hàng, đa dạng hoá các hình thức cho vay (cho vay ưu đãi, cho vay hạn mức, cho vay đồng tài trợ ), đáp ứng tốt nhu cầu mua ngoại tệ của khách hàng.






Xem Thêm: Hiệu quả công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ qua ngân hàng ngoại t
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Hiệu quả công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ qua ngân hàng ngoại t sẽ giúp ích cho bạn.