LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TOÁN
XUẤT NHẬP KHẨU THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Sự khác biệt về vị trí địa lý, môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý, quyền lợi kinh tế .v . đã dẫn tới những rủi ro trong hoạt động thanh toán trong đó có thể phân ra 2 loại cơ bản: Rủi ro chính trị, rủi ro thương mại. Một trong những giải pháp để giảm thiểu rủi ro các nhà xuất nhập khẩu đã đưa ra các điều kiện về thanh toán quốc tế trong hợp đồng ngoại thương do họ ký kết: Có 4 điều kiện chủ yếu sau:
- Điều kiện về tiền tệ:
Trong thanh toán quốc tế, các biện pháp sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định của một nước nào đó chính vì vậy trong các hợp đồng đều có quy định điều kiện tiền tệ. Điều kiện tiền tệ chỉ việc sử dụng các loại tiền tệ nào để tính toán và thanh toán trong các hợp đồng. Đó có thể là vàng, các đồng tiền chung, thuộc các khối kinh tế và tài chính quốc tế như SDR, DEM .v.v ., đó có thể là tiền mặt hoặc tiền tệ tính dụng tồn tại dưới các hình thức như séc, hối phiếu.v.v . Trong đó tiền tệ tính toán là tiền dùng để thể hiện giá cả và tính toán tổng trị giá hợp đồng - còn tiền tệ thanh toán là tiền tệ được dùng để thanh toán cho nhà xuất khẩu trong các hợp đồng mua bán ngoại thương. Việc sử dụng đồng tiền nào là tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán ngoại thương phụ thuộc vào tập quán về thanh toán trên thế giới, vị trí đồng tiền đó trên thị trường quốc tế hay sự so sánh lực lượng của hai bên mua và bán. Và điều kiện tiền tệ chỉ ra cách xử lý khi giá trị đồng tiền thanh toán biến động. Do đó phải lựa chọn đồng tiền tương đối ổn định xác định mối quan hệ tỷ giá với đồng tiền thanh toán để đảm bảo giá trị của đồng tiền thanh toán. Khi thanh toán nếu tỷ giá đó thay đổi thì giá cả hàng hoá và tổng giá trị hợp đồng phải được điều chỉnh một cách tương ứng.
Ví dụ: Đồng tiền thanh toán là FRF
Tổng giá trị hợp đồng là 1.000.000 FRF
Xác định quan hệ tỷ giá với USD : 1USD = 5FRF
Khi thanh toán tỷ giá thay đổi 1USD = 6 FRF thì tổng giá trị hợp đồng được điều chỉnh lại là : 1.200.000 FRF.
- Điều kiện về địa điểm thanh toán:
Trong thanh toán ngoại thương địa điểm thanh toán có thể ở nước ngoài nhập khẩu, hoặc ở nước người xuất khẩu hoặc ở nước thứ ba. Trong thanh toán quốc tế giữa các nước bên nào cũng muốn trả tiền tại nước mình do một vài nguyên nhân sau:
Nếu là nhà nhập khẩu đến ngày trả tiền mới phải chi do đó đỡ đọng vốn, nhà xuất khẩu thu tiền nhanh chóng luân chuyển vốn nhanh hơn.
- Điều kiện về thời gian thanh toán:
Đây có thể nói là điều kiện phức tạp hơn cả thưởng có ba cách quy định.
Trả tiền trước: Sau khi ký hợp đồng hoặc sau khi bên xuất khẩu chấp nhận đơn đặt hàng bên nhập khẩu, nhưng trước khi giao hàng bên nhập khẩu đã trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay một phần số tiền hàng. Đây có thể là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn của nhà nhập khẩu cho người xuất khẩu là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn của nhà nhập khẩu cho người xuất khẩu. Song cũng có thẻ là nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng cho người nhập khẩu.
Trả tiền ngay khi hoàn thành việc giao hàng:
Tại nơi giao hàng quy định hoặc sau khi người bán lập bộ chứng từ gửi hàng và chuyển đến người mua, người mua trả tiền ngay sau khi nhận bộ chứng từ.
Trả tiền sau:
Sau x ngày kể từ ngày người bán hoàn thành việc giao hàng tịa nơi giao hàng.
Sau x ngày kể từ ngày nhận được chứng từ do người bán gửi đến.
- Điều kiện phương thức thanh toán
Điều kiện về phương thức thanh toán là điền kiện quan trọng bậc nhất trong các điền kiện thanh toán quốc tế. Người ta có thể lựa chọn nhiều phương thức chọn phương thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ và từ yêu cầu người mua là nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn, từ yêu cầu của phía dịch vụ và sự an toàn trong kinh doanh.
Các phương thức thanh toán xuất nhập khẩu.
1.Phương thức chuyển tiền.
Phương thức chuyển tiền là phương thức trong đó một khách hàng người nhập khẩu uỷ nhiệm cho Ngân hàng phục vụ mình tính từ tài khoản của mình một số tiền nhất định chuyển một người khác người xuất khẩu tạ địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.
Có hai hình thức chuyển tiền, chuyển tiền bằng thư (M/T, Mail transferr) chuyển tiền bằng điện (T/T telegraphic transfer). Chuyển tiền bằng điện nhanh hơn nhưng chi phí cao hơn.
Ví dụ: Phí T/T 0,2% giá trị chuyển tiền
M/T 0,1% giá trị chuyển tiền
Các bên tham gia.
* Người trả tiền (người nhập khẩu) người cần chuyển tiền ra nước ngoài.
* Người hưởng lợi (người nhập khẩu) người vào đó do người trả tiền quy định.
* Ngân hàng chuyển tiền là Ngân hàng ở nước người chuyển tiền
* Ngân hàng đại lý của Ngân hàng chuyển tiền là Ngân hàng ở nước người xuất khẩu.
Quy trình nghiệp vụ


(1)

(5) (2) (3)
(4)


Bước 1: Sau khi thoả thận ký kết hợp đồng ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện việc cung ứng hàng hoá dịch vụ cho người xuất khẩu, đồng thời chuyển giao toàn bộ chứng từ (hoá đơn, vận đơn, các chứng từ về hàng hoá )
Bước 2: Người nhập khẩu sau khi kiểm tra bộ chứng từ viết lệnh chuyển tiền gửi đến Ngân hàng chuyển tiền (Ngân hàng phục vụ mình) trong đó ghi rõ ràng, đầy đủ những nội dung theo quy định.
Bước 3: Sau khi kiểm tra, nếu thấy đủ khả năng thanh toán, Ngân hàng chuyển tiền sẽ tính tài khoản của người nhập khẩu để chuyển tiền, gửi giấy báo nợ cho đơn vị nhập khẩu.
Bước 4: Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh (bằng thư hoặc điện báo) cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài để chuyển tiền cho người xuất khẩu.
Bước 5: Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người xuất khẩu
Đặc điểm
* Thủ tục đơn giản, phí thanh toán, không cao
* Đây là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và người hưởng lợi, Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, theo uỷ nhiệm để hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì đối với cả người nhập khẩu và người xuất khẩu. Việc chuyển tiền hoàn tất khi thanh toán hết số tiền cho người hưởng lợi, trước thời điểm này số tiền trong tài khoản vẫ thuộcquyển sở hữu của người chuyển tiền và người này có quyển huỷ bỏ lệnh chuyển tiền mà người thụ hưởng không có quyển khiếu nại gì với Ngân hàng. Như vậy việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua, quyền lợi của người xuất khẩu không được đảm bảo.
* Trong quan hệ mua bán ngoại thương, phương thức chuyển tiền chỉ lựa chọn làm phương tiện thanh toán đối với các nhà kinh doanh xuất khẩu cung ứng các dịch vụ có quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, vì khâu thanh toán này dễ làm nảỵ sinh việc chiếm dụng vốn của người bán.
2.Phương thức nhờ thu.







Xem Thêm: Lý luận chung về hiệu quả công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ qua
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Lý luận chung về hiệu quả công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ qua sẽ giúp ích cho bạn.