công ty cơ khí Hà Nội Tổ chức công tác kế toán thành phẩm


Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn có kết cấu gồm ba phần:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh ở công ty cơ khí Hà Nội.
Chương 3: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán thành phẩm , tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh ở công ty cơ khí Hà Nội.

THÀNH PHẨM Ở CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Trong nền kinh tế thị trường các đơn vị sản xuất, kinh doanh ở các thành phần kinh tế cùng tồn tại, cạnh tranh nhau với nhau và bình đẳng trước pháp luật. Các đơn vị sản xuất ra sản phẩm hàng hoá dịch vụ không những có nhiệm vụ phải sản xuất tạo ra các sản phẩm hàng hoá, diạh vụ mà còn phải tổ chức tiêu thụ các sản phẩm đó. Thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, các DN mới đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thường xuyên, liên tục.
Để có thể đứng vững trên thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng đúng và đủ nhu cầu thị trường.Do đó doanh nghiệp không những quan tâm tới việc sản xuất như thế nào mà còn phải quan tâm đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm ra sao. Chính vì vậy vấn đề tiêu thụ sản phẩm là vấn đề sống còn quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp.
Xuất phát từ mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu thụ thì sản xuất là tiền đề của tiêu thụ. Đồng thời tiêu thụ cũng quyết định ngược trở lại sản xuất. Tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng không chỉ với bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
1.1. Sự cần thiết của kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ trong DN sản xuất.
1.1.1. Phân loại, đánh giá và yêu cầu quản lý thành phẩm
1.1.1.1. Khái niệm, vai trò, vị trí của thành phẩm.
Khái niệm thành phẩm
Trong các doanh nghiệp sản xuất, nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất ra các sản phẩm. Các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất sản xuất ra bao gồm thành phẩm, bán thành phẩm, nửa thành phẩm, trong đó thành phẩm chiếm vị trí chủ yếu.
Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn cuối cùng của công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó, đã qua kiểm tra đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, được nhập kho thành phẩm hoặc giao bán trực tiếp cho khách hàng.
Thành phẩm được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng. Số lượng được xác định bằng các đơn vị đo lường như kg, m, cái, Chất lượng được xác định bằng phẩm cấp: loại 1, loại 2, .
Thành phẩm khác với sản phẩm và khác nửa thành phẩm. Sản phẩm nói chung đều là kết quả của quá trình sản xuất, chế tạo. Nó có thể là thành phẩm cũng có thể chưa là thành phẩm. Một sản phẩm có thể trải qua tất cả các quy trình sản xuất của doanh nghiệp cũng có thể chỉ trải qua một hoặc một số quy trình công nghệ nhất định. Những sản phẩm đã trải qua toàn bộ quy trình công nghệ và đạt tiêu chuẩn kỹ thuật thì trở thành thành phẩm còn những sản phẩm chỉ trải qua một số quy trình công nghệ thì là nửa thành phẩm. Như vậy, thành phẩm và nửa thành phẩm là khác nhau và sản phẩm là khái niệm nói chung bao gồm cả thành phẩm và nửa thành phẩm.
Vị trí, vai trò của thành phẩm
Đứng trên giác độ doanh nghiệp: Mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận. Thành phẩm với vai trò là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp cũng là sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận.
Đứng trên giác độ toàn xã hội: Mục tiêu của các ngành sản xuất là tạo ra các sản phẩm phục vụ cho đời sống con người. Các sản phẩm đó bao gồm thành phẩm, nửa thành phẩm, Như vậy trên giác độ xã hội thành phẩm đóng vai trò là một trong những nguồn vật chất trực tiếp duy trì sự tồn tại của loài người.
1.1.1.2 .Phân loại và đánh giá thành phẩm.
Phân loại thành phẩm
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp cũng như để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán thành phẩm
Đánh giá thành phẩm
Theo chuẩn mực số 02: hàng tồn kho, ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 Bộ trưởng Bộ tài chính thì giá trị thành phẩm được tính theo giá gốc. Theo nguyên tắc giá gốc thì thành phẩm được đánh giá theo giá thành sản phẩn thực tế, tuỳ theo sự vận động của thành phẩm mà ta đánh giá cho phù hợp.
Giá gốc thành phẩm bao gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được thành phẩm ở địa điểm và trạng thái hiện tại.
Phương pháp đánh giá thành phẩm
Đối với thành phẩm nhập kho:
Thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoàn thành nhập kho đựơc phản ánh theo giá thành sản xuất thực tế( Zsxtt) bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Thành phẩm do thuê ngoài gia công hoàn thành nhập kho được tính theo giá thực tế gia công, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí thuê ngoài gia công và chi phí liên quan trực tiếp khác( chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong gia công )
Giá trị thành phẩm xuất kho có thể được tính theo một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp tính giá theo giá đích danh;
- Phương pháp bình quân gia quyền;
- Phương pháp nhập trước xuất trước;
- Phương pháp nhập sau xuất trước;
* Nội dung các phương pháp
+ Phương pháp tính giá theo giá đích danh: theo phương pháp này, doanh nghiệp sử dụng đơn giá thực tế của từng loại thành phẩm xuất kho để xác định giá vốn thực tế của chính thành phẩm đó.
Ưu điểm của phương pháp này là dễ áp dụng với kế toán thủ công, chi phí bán ra phù hợp với doanh thu, tính trị giá xuất kho tương đối chính xác. Phù hợp với các doanh nghiệp có trị giá hàng tồn kho lớn, đơn giá cao, hàng tồn kho mang tính đơn chiếc có thể theo dõi từng loại.
Nhược điểm của phương pháp này là không phù hợp với các doanh nghiệp có nhiều chủng loại sản phẩm và có nghiệp vụ nhập- xuất nhiều.
+ Phương pháp bình quân gia quyền: trị giá vốn thành phẩm thực tế xuất kho được tính căn cứ vào số lượng thành phẩm xuất kho và đơn giá bình quân gia quyền theo công thức:
Trị giá thành phẩm = Đơn giá bình x Số lượng thành phẩm
xuất kho quân xuất kho
Đơn giá bình quân Trị giá thành phẩm + Trị giá thành phẩm
của thành phẩm = tồn kho đầu kỳ nhập kho trong kỳ
xuất kho Số lượng thành phẩm + Số lượng thành phẩm
tồn kho đầu kỳ nhập kho trong kỳ
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện, nhưng có nhược điểm là công việc sẽ dồn vào cuối tháng ảnh hưởng tới công tác kế toán và không phản ánh kịp thời tình hình biến động của thành phẩm.
+ Phương pháp nhập trước- xuất trước: theo phương pháp này , kế toán giả định lô hàng nào nhập trước thì được xuất kho trước lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập, hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng được nhập sau cùng.
Ưu điểm của phương pháp này sẽ cho kết quả tính toán tương đối hợp lý. Tuy vậy có hạn chế là khối lượng tính toán nhiều và khi giá cả biến động thì khả năng bảo tồn vốn thấp.
+ Phương pháp nhập sau- xuất trước: theo phương pháp này, kế toán giả định lô hàng nào nhập sau được xuất trước, lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập. trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập đầu tiên và những lần nhập sau cùng sau lần xuất cuối cùng.
Phương pháp này chỉ có thể áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp theo dõi được đơn giá thực tế từng lần nhập.
Ngoài ra các doanh nghiệp còn có thể áp dụng phương pháp đánh giá thành phẩm khác: phương pháp tính theo đơn giá tồn đầu kỳ. Theo phương pháp này thì trị giá vốn thực tế của thành phẩm xuất kho được tính trên cơ sở số lượng và đơn giá của thành phẩm tồn đầu kỳ.


Xem Thêm: công ty cơ khí Hà Nội Tổ chức công tác kế toán thành phẩm
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu công ty cơ khí Hà Nội Tổ chức công tác kế toán thành phẩm sẽ giúp ích cho bạn.