TÊN ĐỀ TÀI: Giải pháp đổi mới & phát triển Doanh nghiệp Nhà nước nhằm nâng cao khả năng hội nhập thị trường quốc tế của VN



PHẦN I

LỜI NÓI ĐẦU


Ngày nay, với sự tác động mạnh mẽ của cuộc các mạng khoa học kỹ thuật công nghệ, xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá , phân công lao động ngày càng phát triển sâu rộng trên phạm vi quốc tế . Bối cảnh đó đặt các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước trước những thách thức cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Do vậy việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước là rất cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà cả thực tiến, từ đó phát huy tối đa nội lực của nền kinh tế.

Trước bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đan xen và phức tạp, để đáp ứng yêu cầu thực hiện thành công sự nghiệp CNH- HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả , thiết nghĩ việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước cần được đẩy lên một bước mới. Báo cáo Chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “ Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách đối với DNNN để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo hướng: xoá bao cấp, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh; nộp đủ thuế và có lãi. Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp. Cơ chế phù hợp để kiểm tra, kiểm soát, thanh tra của nhà nước đối với doanh nghiệp”.

Vì vậy, để tìm ra hướng đi mới cho các doanh nghiệp nhà nước nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong quá trình hội nhập, em quyết định chọn đề tài:



Một số giải pháp đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao khả năng hội nhập thị trường quốc tế của Việt Nam.


PHẦN II


NỘI DUNG CHÍNH


CHƯƠNG I


DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG


I .KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (DNNN).



1. Khái niệm:

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội do Nhà nước giao.



DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. DNNN hoạt động kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận.



Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu các DNNN hoạt động kinh doanh vì hiện đang có rất nhiều vấn đề tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN, đặc biệt là khả năng cạnh tranh của các DNNN hoạt động kinh doanh trong xu thế hội nhập toàn cầu.



Vậy để phù hợp với phạm vi và mục đích của bài viết ta thống nhất lại khái niệm về DNNN như sau: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội do Nhà nước giao.


2. Vai trò chủ đạo, chủ lực của DNNN:


2.1. Vai trò chủ đạo, chủ lực của xí nghiệp quốc doanh trong cơ chế cũ.



Từ năm 1955 miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ khôi phục, cải tạo và phát

triển kinh tế. Ngay ở giai đoạn đầu của công cuộc khôi phục và cải tạo kinh tế ( 1955- 1960 ). Nhà nước ta đã rất coi trọng việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới mà nòng cốt là kinh tế quốc doanh ( nay là kinh tế nhà nước ). Ở giai đoạn này, cùng với quá trình thu hẹp các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa là quá trình hình thành các xí nghiệp quốc doanh bằng nhiều con đường, như tiếp tục mở rộng và phát triển các cơ sở sản xuất ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Nhà nước xây dựng một loạt các xí nghiệp. nhà máy mới, quốc hữu hoá hoặc cải tạo và biến các cơ sở kinh doanh của các nhà tư sản thành các xí nghiệp quốc doanh hoặc xí nghiệp công tư hợp doanh. Với chủ trương đó, xí nghiệp quốc doanh đã đóng vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc khôi phục và cải tạo kinh tế trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, xã hội. Đến cuối thời kỳ cải tạo và khôi phục kinh tế, xí nghiệp quốc doanh đã chiếm ưu thế tuyệt đối trong nền kinh tế quốc dân. Từ đây, vai trò chủ đạo của xí nghiệp quốc doanh luôn được thể hiện một cách xuyên suốt trong mọi chủ trương, đường lối phát triển kinh tế cũng như trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội nước ta.



Theo chủ trương xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất trong giai đoạn thi hành cơ chế kế hoạch hoá tập trung (1960- 1985 ), kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể chiếm vị trí độc tôn. Trong cơ chế kinh tế đó, xét trên giác độ quan hệ sản xuất, xí nghiệp quốc doanh dựa trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất được coi là hình thức sở hữu tiến bộ đóng vai trò gương mẫu, đầu tàu trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa; xí nghiệp quốc doanh vừa là tấm gương, vừa hướng dẫn kinh tế tập thể trong quá trình xây dựng chế độ xã hội mới. Chính quá trình hình thành các khu công nghiệp mới trong thời kỳ này ( gắn liền với quá trình phát triển kinh tế quốc doanh như ở Việt Trì, Thái Nguyên, Vinh, . đã góp phần hình thành bước đầu các trung tâm kinh tế vùng, làm hạt nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế của từng vùng. Sự hình thành và phát triển các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh địa phương ở khắp các tỉnh miền Bắc trong thời kỳ này vừa nhằm xây dựng một hệ thống kinh tế phân tán, phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của nước ta lúc đó lại vừa tạo ra cơ sở kinh tế để giải quyết nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội đặt ra, như tạo ra bước đầu cơ sở hạ tấng để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các vùng nông thôn miền núi; các xí nghiệp quốc doanh ở đây đóng vai trò hướng dẫn, giúp đỡ kinh tế tập thể cùng phát triển. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh được biểu hiện cụ thể trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp: công nghiệp nặng đóng vai trò là xương sống của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trang bị máy móc, thiết bị cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân; công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến đảm bảo các nhu cầu về hàng công nghiệp cho các công nhân viên chức và nhân dân lao động.



Mặc dù đến đầu thập kỷ 80 nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn, thực sự là một nền kinh tế thiếu hụt và thực chất cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã được chuyển sang cơ chế kế hoạch hoá phi tập trung, song mọi sự cải tiến, hoàn thiện khi đó hầu như nhằm vào mục tiêu cố gắng thổi cho kinh tế quốc doanh một luồng sinh khí mới, kinh tế quốc doanh vẫn chiếm vị trí độc tôn. Tuy nhiên, ở thời kỳ này đã bắt đầu xuất hiện các hình thức kinh tế ngoài quốc doanh như kinh tế hộ gia đình, .



Như vậy trong cơ chế kinh tế cũ, xí nghiệp quốc doanh thực sự giữ vai trò chủ đạo, vai trò đòn bẩy, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Kinh tế quốc doanh có vai trò mở đường, hướng dẫn, giúp đỡ kinh tế tập thể cùng phát triển. Xét trên giác độ xã hội, kinh tế quốc doanh đóng góp sức mình vào việc giải quyết các vấn đề xã hội ở từng vùng, từng địa phương: cơ sở hạ tầng, công ăn việc làm .


2.2. Vai trò của xí nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế kinh tế mới.


Từ năm 1985, cơ chế kế hoạch hoá tập trung dần dần được thay thế bởi cơ chế kinh tế mới với đặc trưng cơ bản là không coi nền kinh tế quốc dân chỉ bao gồm hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Trong cơ chế kinh tế mới đó, một mặt, tiếp tục đổi mới quản lý đối với các xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã trong tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, . và lĩnh vực lưu thông, mặt khác kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển trong giai đoạn 1988-1990, đầu tư vào khu vực kinh tế tư nhân có tốc độ tăng rất cao. Cùng với quá trình đổi mới đó kinh tế quốc doanh không còn giữ vị trí độc tôn.


Giai đoạn phát triển này là giai đoạn từ chủ trương đến thực tiễn, phát triển kinh tế đều nhất quán ở chỗ phát triển một kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1991, DNNN trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ chế kinh tế mới. Mặc dù ở giai đoạn này tỷ trọng của kinh tế nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng có giảm, song cho đến nay DNNN vẫn giữ vị trí chủ đạo vì nó nắm giữ những lĩnh vực then chốt, trọng yếu của nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, kinh tế nhà nước, DNNN đã đóng góp thiết thực giải quyết nhiều vấn đề kinh tế – xã hội bức bách của thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý như: tiền tệ hoá tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh, chuyển từ cơ chế kinh doanh vật tư hai giá sang cơ chế một giá và thương mại hoá vật tư, kiềm chế lạm phát, ổn định tài chính tiền tệ, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, tạo đà tăng trưởng khá trong những năm đầu của thập kỷ 90.


II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT HUY VAI TRÒ ĐẠO, CHỦ LỰC CỦA DNNN.

1. Xuất phát từ đòi hỏi bức bách của cơ chế thị trường.

Bắt đầu từ giữa thập kỷ 80 cơ chế kinh tế mới đã được hình thành ở nước ta. Đặc trưng cơ bản của cơ chế mới là xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lịch sử hình thành kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta trong suốt thời kỳ đầu của giai đoạn này theo đấy các cơ sở kinh tế này được lập ra từ chính nguồn vốn lâu nay nằm phân tán trong các tầng lớp dân cư. Từ đó tới nay, nền kinh tế nhiều thành phần mới được phát triển ở nước ta ( khoảng hơn 10 năm trở lại đây ), việc phát triển kinh tế chủ yếu được tiến hành theo chiều rộng, tích luỹ chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như tĩch luỹ riêng của từng doanh nghiệp dân doanh còn rất nhỏ bé.


Trước hết, chúng ta xem xét mâu thuẫn giữa cơ chế kinh tế mới theo xu hướng hội nhập với Khu vực và Thế giới và quy mô quá nhỏ bé của các doanh nghiệp đã được hình thành ở nước ta. Các doanh nghiệp dân doanh với quy mô nhỏ và rất nhỏ đương nhiên không thể có vốn để đầu tư nhà xưởng, công nghệ cũng như trang thiết bị hiện đại, và đương nhiên cũng không thể có tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng mở rộng đầu tư. Nếu so sánh số vốn bình quân của một doanh nghiệp dân doanh với giá trị một chiếc xe ôtô con ( 200 triệu đồng tương đương với giá trị một chiếc xe con rẻ tiền, còn 650 triệu đồng tương đương với giá trị một chiếc ôtô con loại khá ) mới thấy khả năng về vốn của doanh nghiệp dân doanh của nước ta quá eo hẹp. Quy mô nhỏ của doanh nghiệp nước ta thể hiện ở ngay cả với hệ thống các doanh nghiệp nhà nước: . Các Tổng công ty đã thu hút 2000 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 1/3 số DNNN với số vốn là 60.000 tỷ đồng, bằng 95% tổng số vốn của doanh nghiệp trung ương và bằng 74% tổng số vốn của toàn bộ DNNN. Như thế, khoảng 4000 DNNN còn lại của nền kinh tế quốc dân cũng chỉ có tổng số vốn bằng 26% tổng số vốn của DNNN – các DNNN này cũng chỉ là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Trong khi cơ chế kinh tế mới- cơ chế kinh tế mở, nước ta phải từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới của nước ta đòi hỏi bức bách vai trò chủ đạo, làm hạt nhân dẫn dắt các doanh nghiệp dân doanh của các DNNN.


Thứ hai, cơ chế kinh tế mới theo hướng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế đòi hỏi chúng ta phải đổi mới cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu kinh tế cũ dựa trên cơ sở “ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng .” đã không còn thích hợp. Xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý về cơ cấu kinh tế ngành và tính hợp lý về cơ cấu kinh tế vùng ở các giai đoạn phát triển của đất nước. Yêu cầu xây dựng một cơ cấu kinh tế mới, hợp lý trong phạm vi nền kinh tế quốc dân lại mâu thuẫn với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của từng thành viên kinh tế. Nói cách khác không


phải lúc nào lợi ích của từng thành viên kinh tế ( tối đa hoá lợi nhuận ) cũng phù hợp với lợi ích của toàn xã hội ( lợi ích xã hội đạt tối đa ). Trong bối cảnh đó, chỉ có Nhà nước sử dụng các doanh nghiệp do mình lập ra ( DNNN ) mới có thể điều hoà được sự bất cập trong cơ chế kinh tế theo phương châm ở ngành nào, vùng nào có nhu cầu mở rộng năng lực sản xuất mà doanh nghiệp dân doanh không làm thì DNNN phải làm. Có như thế mới có thể nói đến việc hình tành một cơ chế kinh tế hợp lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.


Thứ ba, cơ chế kinh tế mới ở nước ta đòi hỏi phải quản lý nền kinh tế nói chung và các hoạt động kinh tế nói riêng bằng pháp luật. Đây là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản, vì trong nhiều năm qua chúng ta ít chú ý đến vấn đề này, ý thức chấp hành pháp luật của mỗi chủ thể kinh doanh còn quá thấp. Vấn đề càng phức tạp hơn khi số lượng các chủ thể kinh doanh quá nhiều, khi mà các doanh nhân đủ loại: có nhiều người đã được đào tạo, am hiểu pháp luật và kiến thức quản trị kinh doanh, và cũng có rất nhiều người tham ra vào quá trình kinh doanh song còn thiếu cả ý thức và kiến thức cần thiết. Trong tình hình đó, các DNNN trở thành lực lượng gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện pháp luật nói chung và luật kinh doanh nói riêng. Thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp, hướng dẫn các vệ tinh của mình cùng thực hiện luật pháp là một đòi hỏi tất yếu của cơ chế kinh tế mới đối với các DNNN ở nước ta.


Đương nhiên, khi các doanh nghiệp dân doanh lớn mạnh đến một mức nào đó, khi ý thức kinh doanh theo pháp luật cũng như việc thực hiện pháp luật của các doanh nghiệp dân doanh ngày càng cao thì vai trò của DNNN trong lĩnh vực này cũng thay đổi theo.


Xem Thêm: Giải pháp đổi mới & phát triển nhà nước nhằm nâng cao khả năng hội nhập thị trường quốc tế của Việt
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Giải pháp đổi mới & phát triển nhà nước nhằm nâng cao khả năng hội nhập thị trường quốc tế của Việt sẽ giúp ích cho bạn.