Vấn đề giáo dục nguồn nhân lực với sự phát triển
MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu của mọi quốc gia nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải huy động mọi nguồn lực cần thiết (trong nước và từ nước ngoài), bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực tài nguyên, các ưu thế và lợi thế (về điều kiện địa lý, thể chế chính trị, ). Trong các nguồn này thì nguồn nhân lực là quan trọng , quyết định các nguồn lực khác. Lịch sử phát triển của thế giới cũng chứng minh rằng, quốc gia nào có chính sách tạo nguồn nhân lực và biết sử dụng nguồn nhân lực đó thì quốc gia đó phát triển.
Trên thực tế, trong những năm qua và hiện nay mặc dù GD NNL đã tăng cả về số lượng, chất lượng và sự thay đổi về cơ cấu Tuy nhiên với yêu cầu cao của phát triển kinh tế và quá trình hội nhập đang đặt ra thì NNL trong GD - ĐT đặc biệt là NNL trong GD còn nhiều bất cập: dân số đông, có đội ngũ lao động trẻ tuổi khá lớn và luôn được bổ sung, có trình độ phổ cập về văn hóa vào loại khá trên thế giới, nhưng nguồn nhân lực đáp ứng cho đòi hỏi của sự phát triển lại không được như mong muốn, chất lượng GD NNL còn chưa cao so với đòi hỏi của phát triển kinh tế – xã hội, cơ cấu GD NNL còn thiếu cân đối giữa các bậc học giữa các vùng/miền; cơ chế, chính sách sử dụng, sắp xếp, bố trí NNL (nhất là sử dụng nhân tài trong lĩnh vực này) còn chưa phù hợp, chưa thoả đáng, việc đầu tư cho GD NNL còn thấp, chưa xứng đáng với vai trò và vị thế của đội ngũ. Chính vì vậy việc GD NNL trong GD – ĐT với sự phát triển đang đặt ra là hết sức quan trọng, và cần thiết. Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã định hướng cho GD NNL Việt Nam “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn với một nền khoa học- công nghệ và hiện đại’’.
Như vậy, việc GD NNL với sự phát triển phải đặt trong chiến lược phát triển, kinh tế - xã hội, phải đặt ở vị trí trung tâm, chiến lược của mọi chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Chiến lược phát triển GD NNL của nước ta phải đặt trên cơ sở phân tích thế mạnh và những yếu điểm của nó, để từ đó có chính sách khuyến khích, phát huy thế mạnh ấy, đồng thời cần có những giải pháp tích cực, hạn chế những mặt yếu kém trong việc GD NNL với sự phát triển. Có như vậy chúng ta mới có được nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trên cơ sở đó,chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:”Vấn đề giáo dục nguồn nhân lực với sự phát triển”
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mục đích của đề tài: Phân tích thực trạng GD NNL trong lĩnh vực GD-ĐT với sự phát triển, chỉ ra những thành công, hạn chế rút ra cơ hội và thách thức chủ yếu trong lĩnh vực này, từ đó đưa ra những quan điểm và một số giải pháp cơ bản nhằm GD NNL trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
- Để hoàn thành mục đích đặt ra, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về GD NNL trong lĩnh vực GD – ĐT với sự phát triển.
+ Phân tích thực trạng của việc GD NNL với sự phát triển hiện nay trên thế giới và Việt Nam; chỉ ra những thành công, hạn chế chủ yếu và các nguyên nhân của nó→cơ hội và thách thức.
+ Đưa ra những quan điểm và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của GD NNL với sự phát triển ở nước ta trong giai đoạn hiện nay .
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài : sự phát triển NNL trong lĩnh vực GD với tư cách là nhân tố quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: lĩnh vực GD trong GD-ĐT trên thế giới và ở nước ta. (Bao gồm: đội ngũ những người làm công tác giảng dạy, cán bộ quản lý GD. Không chỉ về mặt số lượng mà cả về mặt chất lượng).


KẾT LUẬN
1.KẾT LUẬN
Qua phần nghiên cứu thực trạng giáo dục nguồn nhân lực trên thế giới và Việt Nam chúng tôi kết luận rằng:
- Sự phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với giáo dục nguồn nhân lực, một quốc gia muốn phát triển phải chú trọng giáo dục nguồn nhân lực ngay từ đầu.
- Tại các nước phát triển giáo dục nguồn nhân lực phát triển ở mức cao, tại các nước đang phát triển giáo dục nguồn nhân lực ở mức vừa và thấp ( Việt Nam nằm trong nhóm này ), các nước kém phát triển giáp dục nguồn nhân lực còn hạn chế.
- Các nước phát triển có điều kiện cơ sở hạ tầng, kinh tế, khoa học kĩ thuật đẻ phát triển mạnh giáo dục nguồn nhân lực. Tuy nhiên một bộ phận di cư chưa được quản lý chặt chẽ trong vấn đề giáo dục nguồn nhân lực. Các nước này cần có các chính sách quản lý giáo dục bộ phận di cư này để hạn chế vấn nạn thất nghiệp.
- Các nước đang phát triển mà Việt Nam là một điển hình giáo dục nguồn nhân lực đã được chú trọng đầu tư tuy nhiên chưa được phổ biến và còn có sự phân biệt giữa các vùng miền đia phương và giữa các hộ gia đình. Nguồn nhân lực của Việt Nam dồi dào, giá rẻ nhưng chưa được giáo dục đúng cách nên nguồn nhân lực chưa đáp ứng các yêu cầu phát triển của đất nước trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Việt Nam cần có những biện pháp: đổi mới cơ chế quản lý giáo dục nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng, học hỏi kinh nghiệm giáo dục nguồn nhân lực từ các nước phát triển và áp dụng những chính sách giáo dục nguồn nhân lực sâu rộng và toàn diện.
- Các nước kém phát triển giáo dục nguồn nhân lực còn rất hạn chế hầu như chưa được đầu tư, muốn phát triển giáo dục nguồn nhân lực thì các nước này cần có nguồn vốn lớn và kinh nghiệm trong quản lý giáo dục nguồn nhân lực từ các nước phát triển.


Xem Thêm: Vấn đề giáo dục nguồn nhân lực với sự phát triển
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Vấn đề giáo dục nguồn nhân lực với sự phát triển sẽ giúp ích cho bạn.