Một số giải pháp đầu tư phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam.


Chương III

Một số giải pháp đầu tư phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam.

I.Quan điểm định hướng đầu tư phát triển ngành Thuỷ sản Việt Nam.

1.Một số dự báo.
Trong những năm gần đây, Thuỷ sản đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Cùng với sự phát triển của thế giới, ngành Thuỷ sản Việt Nam cũng có một số thay đổi để phù hợp với nhu cầu tiêu dùng.
1.1Xu hướng chuyển đổi cơ cấu nghề cá.

Mặc dù nước ta được ưu đãi về vị trí địa lý thuận lợi cho việc phát triển nghề cá nhưng đã nhiều năm nay, người ta càng nhận thấy rõ rằng nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trong các mực nước tù đầm, hồ, sông suối đến biển khơi và đại dương đều có hạnvà ngày nay con người đang khai thác đến sát nút sự bền vững của nó. Từ đó việc tái tạo lại các nguồn lợi thuỷ sản bằng cách nuôi trồng chúng ngày càng trở thành một lĩnh vực sản xuất quan trọng. Nuôi trồng thuỷ sản sẽ được đầu tư phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Trong đó đối tượng nuôi trồng là các loại cá vẩy (49% sản lượng và 55% giá trị) và tôm sú là loài được xếp hàng đầu các loài giáp xác được nuôi trong những năm gần đây. Một số yếu tố chủ yếu đẩy nhanh tốc độ sản xuất và nuôi trồng các loài cá có vẩy và các loài giáp xác chính là nhờ khả năng giải quyết được các giống nhân tạo. Trong những năm tới, sản lượng nuôi trồng nước ngọt vẫn sẽ chiếm cao và ngày càng cao so với sản lượng nuôi trồng nước lợ và nuôi biển (hiện nay là 60% so với 40&). Bên cạnh nuôi trồng thuỷ sản, cơ cấu nghề khai thác hải sản cũng có sự thay đổi. Nhữmg năm tới đây, chúng ta sẽ đầu tư công nghệ để phát triển và nâng cao hiệu quả đánh bắt xa bờ, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, bảo vệ nguồn lợi hải sản gần bờ.

1.1 Xu thế thương mại quốc tế và khu vực trong lĩnh vực thuỷ sản

thương mại quốc tế và khu vực trong lĩnh vực thuỷ sản những năm tới đây cũng có xu thế biến đổi. Việc tiêu thụ các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu đang có chiều hướng thay đổi tuỳ thuộc vào thị trường. Hàng thuỷ sản tươi sống sẽ tăng nhanh hơn so với các mặt hàng đông lạnh và có xu hướng giảm của các mặt hàng đông lạnh. Các mặt hàng tươi sống có nhu cầu cao như tôm hùm, cua bể, cá vược, cá mú . Cá hộp sẽ giảm nhu cầu thay vào đó là cua hộp, tôm hộp, trứng cá hộp. Hàng thuỷ sản nấu chín ăn liền cũng có xu hường giảm. Về mặt thị trường, Nhật Bản vẫn là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất do nghề khai thác cá biển của Nhật đang xuống dốc nghiêm trọng. Thị trường thuỷ sản ở Mỹ cũng là một thị trường lớn, kinh tế Mỹ đang tăng trưởng do đó nhập khẩu thuỷ sản có khả năng tăng theo. EU là thị trường lớn thứ hai trên thế giới ngang với thị trường Mỹ, từ năm 1996 -1999 EU giảm 30% sản lượng thuỷ sản khai thác và sẽ tiếp tục giảm 5% vào các năm 1999-2002, do đó EU phải nhập khẩu từ bên ngoài khối. Ngoài ra còn có các thị trường mới như Trung Quốc với lượng nhập khẩu để tiêu thụ và tái chế xuất khẩu rất lớn hằng năm; các thị trường Hồng Kông và Singapo có nhiều triển vọng. Tuy nhiên tư 2001, xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn hơn vì theo dự đoán khả năng tăng trưởng của kinh tế thế giới sẽ giảm đi làm ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ. Hơn nữa có sự trở lại của một số nước mạnh về xuất khẩu thủy sản từ trước đến giờ như Ecuado, Indonexia.

1.2 Xu hướng đa dạng hoá sản phẩm thuỷ sản phục vụ xuất khẩu.

Những năm tới đây, một số thị trường xuất khẩu thuỷ sản có dấu hiệu phục hồi sau một thời gian vắng bóng làm cho ngành thuỷ sản Việt Nam có thêm nhiều bạn hàng cạnh tranh mới, so với năm 2000, những thuận lợi trong xuất khẩu thuỷ sản không còn nữa. Thêm vào đó nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thuỷ sản cũng thay đổi, tỷ lệ tiêu thụ các mặt hàng tươi sống tăng nhanh trong khi các mặt hàng chế biến sẵn truyền thống giảm đang kể. Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu đối tượng khai thác và đánh bắt, các loại thuỷ hải sản có chất lượng dinh dưỡng cao được tập trung khai thác, thêm vào đó là sự áp dụng công nghệ vào lai tạo và nuôi trồng các loài hiện nay đang được ưa chuộng, thì nguồn nguyên liệu cung cấp cho chế biến xuất khẩu ngày càng đa dạng và phong phú. Nhưng để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất thì chúng ta phải hạn chế tối đa viêc xuất khẩu những sản phẩm mới chỉ qua chế biến thô, tiến tới xu hướng đầu tư phát triển công nghệ đa dạng hoá các sản phẩm có thể chế biến được từ một nguồn nguyên liệu phục vụ cho nhiều đối tượng tiêu thụ, ví dụ như cùng một loài nguyên liệu từ cá, thị trường Nhật Bản ưa chuộng các sản phẩm gỏi, trong khi đó thị trường EU lại ưa thích các sản phẩm tươi sống. Hiện nay một loại sản phảm đang được đưa vào sản xuất ở nước ta đó là các loại bánh được làm từ trứng cá. Một đặc điểm cơ bản của thuỷ sản là sự tươi sống, sản phẩm càng tươi ngon bao nhiêu càng thu hút khách hàng bất nhiêu, so với những năm trước đây, mặt hàng đồ hộp sẽ không còn chiếm ưu thế, thay vào dó các sản phẩm tươi sống sẽ chiếm vị trí chủ yếu như tôm, cua, thịt cá ngừ đại dương. Bên cạnh đó sự đa dạng hoá các mặt hàng đông lạnh như mực đông lạnh, cá đông lạnh và một loạt các sản phẩm phụ khác nhưng không kém phần quan trọng bởi sự đáp ứng phong phú nhu cầu sẽ là xu hướng phát triển trong thời gian tới.

2. Những thuận lợi và khó khăn trong nhưng năm tới đối với sự phát triển của ngành Thuỷ sản Việt Nam.

Bước vào thời kì kế hoạch 5 năm 2001-2005 là kế hoạch mở đầu cho thế kỉ 21. cùng với những vận hội đang mở ra, các thách thức cũng không kém phần gay gắt cần phải vượt qua nhằm đạt được các mục tiêu phát triển và hội nhập đối với nền kinh tế nước ta.




Xem Thêm: Một số giải pháp đầu tư phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam.
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Một số giải pháp đầu tư phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam. sẽ giúp ích cho bạn.