Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đã trở thành yêu cầu nội sinh, bức thiết của đất nước ta, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển k

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18524 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đã trở thành yêu cầu nội sinh, bức thiết của đất nước ta, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển k


    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài
    1.1. Tính lý luận, thời sự của đề tài
    Thông tin đối ngoại (TTĐN) là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong quá trình hội quốc tế của Việt Nam hiện nay, TTĐN lại càng cần phải được chú trọng. TTĐN có nhiệm vụ làm cho nhân dân, chính phủ các nước, người nước ngoài đang sinh sống, làm việc ở Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, về đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi mới của Việt Nam, đồng thời đấu tranh dư luận chống lại những luận điệu bôi xấu, xuyên tạc của các thế lực thù địch, trên cơ sở đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước, của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là quá trình tìm tòi, trải nghiệm, sáng tạo và liên tục đổi mới tư duy trên mọi lĩnh vực, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại. Với chủ trương mở rộng sự hợp tác và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế”[1] được Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đề ra, Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nhờ thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế”[2], sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quan hệ đối ngoại. Từ chỗ bị cô lập về chính trị, bị bao vây, cấm vận về kinh tế, đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 174 nước, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với trên 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam hiện là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và khu vực. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta có quan hệ với tất cả các nước, các trung tâm chính trị - kinh tế lớn trên thế giới. Đảng ta có quan hệ ở các mức độ khác nhau với trên 200 chính đảng ở các nước trên khắp các châu lục của thế giới. Các đoàn thể và tổ chức nhân dân ta có quan hệ với hàng trăm tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế. Những thành tựu đó, một mặt, đã góp phần khẳng định tính đúng đắn của tư duy đối ngoại đổi mới, đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng ta, mặt khác, thể hiện sự hội nhập nhanh chóng, sâu sắc của Việt Nam vào đời sống quốc tế.
    Đến nay, việc mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đã trở thành yêu cầu nội sinh, bức thiết của đất nước ta, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã thực sự trở thành bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. Quan hệ đối ngoại đã có bước phát triển mới. Hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân phát triển mạnh, góp phần giữ vững môi trường hoà bình, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Để đạt được những thành công đó, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đẩy mạnh hoạt động TTĐN.
    Cùng với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng trong tất cả các lĩnh vực, nhu cầu cung cấp thông tin từ Việt Nam ra thế giới và đưa thế giới đến với Việt Nam ngày càng bức thiết và lớn mạnh. TTĐN tạo điều kiện cho thế giới hiểu Việt Nam, hiểu về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” của Việt Nam, trên cơ sở đó hợp tác nhiều hơn với chúng ta. TTĐN giúp xây dựng hình ảnh Việt Nam hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển, đồng thời đang góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. TTĐN cũng giúp cho nhân dân Việt Nam đón nhận những thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức quản lý, sản xuất cùng những tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới. Do đó để hội nhập quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng, cần phải tích cực đẩy mạnh hoạt động TTĐN hơn nữa.
    TTĐN luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Cùng với việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (1986) đề cập đến việc cần chú trọng thực hiện công tác TTĐN. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, trong nhiệm kỳ Đại hội VII, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 11/CT-TW (1992) định hướng đúng đắn và tổ chức lực lượng hoạt động TTĐN. Trong nhiệm kỳ Đại hội VIII, Thường vụ Bộ Chính trị ra Thông báo số 188/TB-TW (1998) bổ sung, nhấn mạnh những đối tượng, địa bàn ưu tiên và trọng điểm tổ chức lực lượng của công tác TTĐN. Tháng 4 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 10/2000 CT-TTg về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác TTĐN. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (2001) nhấn mạnh nhiệm vụ tăng cường công tác TTĐN. Sau Đại hội, nhận thấy nhu cầu cấp bách cần tăng cường sự lãnh đạo và phối hợp ở tầm chiến lược của công tác này trong tình hình phát triển các lực lượng và hoạt động TTĐN, ngày 26 tháng 12 năm 2001 Ban Bí thư đã ban hành Quyết định 16 về thành lập Ban chỉ đạo công tác TTĐN. Đại hội X của Đảng (2006) một lần nữa nhấn mạnh đến việc “đẩy mạnh công tác văn hoá - TTĐN, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước”[3]. Ngày 26 tháng 12 năm 2006, Ban Bí thư ra Quyết định số 29 để kiện toàn Ban chỉ đạo công tác TTĐN. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 Khóa X của Đảng (2007) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới đã cụ thể hóa một bước nhiệm vụ và giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác TTĐN nói chung và hoạt động TTĐN của báo chí nói riêng. Nghị quyết đã chỉ rõ cần phải “Củng cố tổ chức, tăng cường cán bộ và phương tiện để mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả công tác TTĐN, giúp cho cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có nhận thức và thái độ đúng đắn về đất nước ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta”[4]. Ngày 10 tháng 9 năm 2008, Ban bí thư Trung ương Đảng khóa X đã ra Chỉ thị số 26/CT-TW về “tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác TTĐN trong tình hình mới” nhằm khẳng định rõ hơn nội dung, phương thức, đối tượng, địa bàn hoạt động TTĐN ở nước ta, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
    Sự quan tâm, lãnh đạo kịp thời, sát sao của Đảng và Nhà nước về công tác TTĐN cũng như đòi hỏi của thực tiễn đã nâng nhận thức của mọi người, mọi ngành, mọi cấp về TTĐN lên tầm cao mới. Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, các cơ quan, tổ chức, các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương, các tập thể và cá nhân đã tiến hành hoạt động TTĐN dưới nhiều hình thức phong phú, đem lại nhiều lợi ích thiết thực.
    Tuy nhiên, hoạt động TTĐN thời gian qua cũng bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém, khuyết điểm cần nhanh chóng khắc phục để đáp ứng kịp thời những yêu cầu và nhiệm vụ ngày càng cao, ngày càng khó khăn của quá trình hội nhập quốc tế, của sự nghiệp Đổi mới đất nước. Để thực hiện điều này được nhanh chóng và có hiệu quả cao, cần có những công trình nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của công tác TTĐN, tạo cơ sở khoa học cho những hoạt động thực tiễn, tránh việc hoạt động một cách cảm tính, dựa chủ yếu vào kinh nghiệm và thiếu những chiến lược hoạt động dài hạn.
    1.2. Tính cấp thiết đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
    Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động thực tiễn của công tác TTĐN, một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước quan tâm và ưu tiên thực hiện là đào tạo, nâng cao năng lực nguồn nhân lực làm công tác đối ngoại nói chung và TTĐN nói riêng. Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhấn mạnh cần “chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng về chính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất tốt”[5]. Hiện nay, cán bộ chuyên trách TTĐN ở các cơ quan, tổ chức, địa phương còn rất ít, ở nhiều nơi còn chưa có. Các cán bộ này đa phần mới chỉ được tập huấn qua các lớp bồi dưỡng kỹ năng TTĐN ngắn hạn, chưa được đào tạo chính quy, do vậy năng lực còn nhiều hạn chế. Từ năm học 2004-2005, Học viện Báo chí và Tuyên truyền được Đảng và Nhà nước lựa chọn, tin tưởng giao nhiệm vụ đào tạo cử nhân ngành TTĐN hệ tập trung dài hạn. Cho đến nay, 5 khóa sinh viên TTĐN đầu tiên của cả nước với gần 160 sinh viên do Khoa Quan hệ quốc tế quản lý đang nỗ lực học tập, trau dồi kiến thức, rèn luyện đạo đức, chuẩn bị cho công tác sắp tới của mình.
    Việc tiến hành các nghiên cứu khoa học để nhanh chóng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, rút ra các bài học để hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, bên cạnh ý nghĩa thực tiễn, còn có ý nghĩa giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng to lớn. Các kết quả thu được sau mỗi nghiên cứu sẽ làm tài liệu phục vụ quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác TTĐN của cả nước. Hiện nay, việc hoàn thiện chương trình đào tạo, công tác biên soạn bài giảng, tài liệu tham khảo và xây dựng giáo trình cho các học phần chuyên ngành TTĐN đang được khẩn trương xúc tiến. Việc thực hiện những nghiên cứu về TTĐN đang được lãnh đạo các cấp khuyến khích và ưu tiên, nhằm phát triển cơ sở khoa học cho việc đào tạo cử nhân ngành TTĐN. Đặc biệt cho những học phần trực tiếp liên quan đến chủ đề của nghiên cứu này như: “Đại cương TTĐN”, “Tổ chức hoạt động TTĐN”, “Thu thập xử lý TTĐN”, “Tổ chức sản xuất sản phẩm TTĐN”, “Quản lý hoạt động TTĐN”, “Các chuyên đề TTĐN”.
    Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động TTĐN đang được nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia muốn tăng cường ảnh hưởng và hình ảnh của mình ra bên ngoài, quan tâm đẩy mạnh. Nghiên cứu này cũng sẽ cố gắng tìm hiểu, phân tích kinh nghiệm đẩy mạnh hoạt động TTĐN trong bối cảnh toàn cầu hoá của các nước trên thế giới. Thực hiện được điều này, một mặt sẽ giúp Việt Nam rút ngắn quá trình tìm tòi, thử nghiệm và đề ra những chính sách hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước và quốc tế. Mặt khác, giúp chúng ta chủ động, tích cực hơn trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực.
    Những điều nêu trên đã minh chứng cho tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài.
    2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
    Hoạt động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam là một hướng nghiên cứu mới, rộng lớn, bao trùm hai mảng nghiên cứu lớn là hội nhập quốc tế và TTĐN.
    Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập, chủ đề về hội nhập quốc tế của Việt Nam đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Điều này được biểu hiện một số lượng tương đối lớn sách, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các chính khách trong và ngoài nước. Hội nhập quốc tế của Việt Nam được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau và trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
    Nhiều công trình nghiên cứu tác động của toàn cầu hoá đến các quốc gia, dân tộc và phân tích sự cần thiết của hội nhập khu vực, quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay. Trong số đó tiêu biểu là cuốn sách của Trần Trọng Toàn, Đinh Nguyên Khiêm (1999) “Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế của Việt Nam”[6]. Trong cuốn sách, các tác giả đã nêu lên những ưu thế, thời cơ và thách thức trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, kinh nghiệm hội nhập kinh tế của các nước đang phát triển. Trên cơ sở đó nêu lên các vấn đề xuất hiện trong tiến trình hội nhập của Việt Nam, đặt biệt là những vấn đề kinh tế, về liên kết kinh tế và đề xuất những giải pháp giải quyết. Cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề thông tin kinh tế đối ngoại còn nhiều hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến những thành công trong quá trình hội nhập.
    Hai công trình của các nhà nghiên cứu Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Toàn cầu hoá - phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu”của Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Xuân Sầm (2001)[7]“Xu thế toàn cầu hóa trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của Lê Hữu Nghĩa, Trần Khắc Việt và Lê Ngọc Tòng (2007)[8], đã cung cấp đầy đủ phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu về toàn cầu hoá và sự tác động của nó đối với các mặt chính trị, văn hoá, xã hội. Các tác giả đã chỉ ra sự phức tạp, nhiều mặt của toàn cầu hóa. Đó là kết quả tác động tổng hợp của nhiều nhân tố. Trong thế giới toàn cầu hoá, nền kinh tế các nước ngày càng hội nhập và phụ thuộc chặt chẽ với nhau, do vậy, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan. Ngoài ra, các tác giả cũng phân tích những thách thức và thời cơ đối với sự phát triển của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa hai thập niên đầu thế kỷ XXI và đề ra những phương hướng có tính nguyên tắc để Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thành công. Mặc dù không trở thành một phần nghiên cứu riêng biệt nhưng trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các luồng thông tin trong xã hội hiện đại – luồng thông tin từ trong nước ra bên ngoài và luồng thông tin quốc tế vào trong nước.
    Bên cạnh đó, những nghiên cứu của Vũ Dương Ninh (2003) “Toàn cầu hoá và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam”[9], của Nguyễn Vân Nam (2006) “Toàn cầu hoá và sự tồn vong của nhà nước”[10] cũng phân tích những tác động cơ bản nhất của toàn cầu hóa đến chính sách ngoại giao, kinh tế, xã hội, giáo dục, hội nhập quốc tế của các nước và Việt Nam. Đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể giúp các nước thích nghi nhanh chóng với quá trình toàn cầu hóa.
    Một số công trình nghiên cứu khác tìm hiểu quá trình hội nhập của Việt Nam vào đời sống quốc tế và khu vực, đưa ra và phân tích những sự kiện, những mốc thời gian đáng nhớ của quá trình này. Đáng chú ý là nghiên cứu “Tiến trình hội nhập Việt Nam-ASEAN” của Đinh Xuân Lý (2001)[11], “Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập” của Phạm Văn Hằng và nhóm tác giả (2005)[12]. Dưới cách phân tích tiến trình lịch sử, các cuốn sách này đã cung cấp những kiến thức tương đối hệ thống các sự kiện lịch sử trong quan hệ quốc tế, đổi mới và hội nhập quốc tế, khu vực của Việt Nam.
    Ngoài ra, trong số các phân tích về hội nhập quốc tế của Việt Nam, có một số công trình có giá trị của các chính trị gia, các nhà hoạt động kinh tế thực tiễn. Đặc biệt trong số này là cuốn sách của đồng chí Phan Văn Khải (2006) “Đổi mới sâu rộng, phát triển đất nước nhanh và bền vững, tiến cùng thời đại”[13]. Cuốn sách đã phân tích, đánh giá tình hình đất nước, khẳng định những thành tựu và vạch rõ những mặt yếu kém, đề ra phương phương hướng giải quyết những vấn đề của quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam. Tác giả khẳng định, để đi đến thành công, Việt Nam cần tăng cường đại đoàn kết dân tộc, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
    Hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài. Tiêu biểu là tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các chuyên gia quốc tế “Việt Nam hướng tới 2010” (2001)[14] và cuốn “Các nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường” của Marie Lavigue (2002)[15]. Các tác giả đã đề cập đến vấn đề về chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường và sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, những thách thức và thời cơ.
    Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích sâu sắc quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, chỉ ra những khó khăn và thuận lợi, thời cơ và thách thức. Đây sẽ là những nguồn tư liệu quý báu khi thực hiện đề tài. Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu đều tập trung phân tích hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế hoặc được nhìn nhận dưới góc độ phát triển kinh tế.
    Thời gian gần đây xuất hiện những nghiên cứu sâu sắc về hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực khác như an ninh, quốc phòng và văn hoá. Trong số này đáng chú ý là nghiên cứu “Hội nhập kinh tế với vấn đề giữ gìn an ninh quốc gia ở Việt Nam” của Nguyễn Quốc Nhật và Nguyễn Văn Ngừng (2001)[16]. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, các tác giả đã chỉ ra những xu thế chính trị của thế giới, ảnh hưởng của nó trên phạm vi toàn cầu cũng như ở Việt Nam và đề ra những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế đối ngoại, gắn liền với đảm bảo an ninh quốc gia.
    Trong hướng nghiên cứu này còn có nhiều công trình tiêu biểu như “Văn hóa phương Đông - truyền thống và hội nhập” của Mai Ngọc Chừ và nhóm tác giả (2006)[17], “Văn hoá thời hội nhập” của Trần Kiêm Đoàn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Văn Ngọc (2006)[18] và đặc biệt là các bài viết của Phạm Quang Nghị được in trong cuốn “Công cuộc đổi mới - động lực phát triển lý luận và văn hoá” (2005)[19], của Trần Văn Bính (2008) “Văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế”[20]. Các tác giả đã phân tích một số vấn đề lí luận và thực tiễn của văn hoá Việt Nam trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và khu vực, vấn đề hội nhập văn hoá truyền thống và hiện đại của các nước phương Đông và Việt Nam, vai trò và động lực của văn hóa nghệ thuật trong phát triển kinh tế, xã hội của nước ta và làm thế nào để giữ gìn, phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập hiện nay.
    Các nghiên cứu này đã cung cấp thêm một khía cạnh khác của quá trình hội nhập của Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập về vấn đề TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, gắn sự thành công của hội nhập quốc tế với việc đẩy mạnh hoạt động TTĐN. TTĐN là một lĩnh vực công tác đối ngoại quan trọng, có vai trò tích cự trong quá trình hội nhập quốc tế, tuy nhiên còn mới mẻ với nhiều người và chưa thực sự được đầu tư thích đáng, chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của giới nghiên cứu khoa học.
    Bên cạnh đó, thời gian gần đây đã xuất hiện một số các bài viết, nghiên cứu phân tích các góc độ khác nhau của TTĐN.
    TTĐN chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ của những người quản lý, qua các bài phát biểu, báo cáo tổng hợp của các cơ quan, tổ chức đang trực tiếp phụ trách các mảng công tác TTĐN khác nhau. Đặc biệt trong các bài phát biểu của Vũ Khoan “Một số trọng tâm công tác TTĐN”, của Đỗ Quý Doãn“Hoạt động văn hóa thông tin phục vụ TTĐN”, của Đặng Đình Lâm “Công tác TTĐN sau 3 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng IX và phương hướng nhiệm vụ công tác TTĐN hai năm 2004-2005”, của Vũ Văn Hiến “Đài THVN với công tác TTĐN”, của Vũ Hiền “Đài TNVN với công tác TTĐN”, của Lê Dũng“Công tác phát ngôn, đấu tranh dư luận và quản lý phóng viên báo chí nước ngoài”[21] đã nêu bật tầm quan trọng của hoạt động TTĐN, đồng thời chỉ ra những thành tựu và yếu kém trong các đơn vị đang phụ trách công tác này. Tuy nhiên các bài viết này chủ yếu được phổ biến trong nhóm những người trực tiếp đang tham gia công tác TTĐN, chưa được xã hội hoá cho đông đảo các nhà nghiên cứu và công chúng.
    Một nguồn tư liệu có giá trị trong quá tình nghiên cứu đề tài là các bài tham luận của các cơ quan, tổ chức, địa phương được trình bày trên Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị 11- CT/TW do Ban chỉ đạo công tác TTĐN và Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức vào tháng 4/2008. Trong kỷ yếu Hội nghị đã tập hợp được nhiều báo cáo, phân tích sâu sắc về quá trình thực hiện công tác TTĐN ở các bộ, ban, ngành, các địa phương trong khắp cả nước.
    Với sự ra đời của Tạp chí Thông tin đối ngoại[22], nhiều nhà hoạt động, nghiên cứu đã cho đăng tải các bài suy nghĩ, phân tích về TTĐN của Việt Nam hiện nay. Tiêu biểu trong số đó là bài viết của Hồng Vinh (2006) “TTĐN góp sức tích cực thúc đẩy hội nhập quốc tế”[23]. Tác giả đã nêu bật vai trò của TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là qua hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp trong tiến trình ra nhập các tổ chức quốc tế lớn. Bài viết của Phạm Xuân Thâu (2006) “Thành tựu nổi bật và những nhiệm vụ chủ yếu của công tác TTĐN trong tình hình mới”[24] đã phân tích các thành tựu của công tác TTĐN thời gian qua và nêu lên những nhiệm vụ chủ yếu giúp đẩy mạnh hơn nữa hoạt động TTĐN. Trong tạp chí này cũng luôn có các bài viết mang tính chỉ đạo công tác TTĐN của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước: Nông Đức Mạnh (2008) “Thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng XHCN”, của Trương Tấn Sang (2008) “Đẩy mạnh công tác tuyên giáo, nâng cao chất lượng hoạt động TTĐN”, của Phạm Gia Khiêm (2008) “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác TTĐN trong tình hình mới”[25].
    Cũng trên tạp chí này, nhiều phân tích sâu sắc về các mảng công tác TTĐN cho các đối tượng, địa bàn và lĩnh vực khác nhau đã được đảng tải. Nổi bật trong số đó là bài viết của Hồng Vinh (2004)”Công tác TTĐN ở một số nước Đông Âu”, của Nguyễn Duy Quyền (2004) “Công tác TTĐN của các Đảng bộ, chi bộ ngoài nước”, của Trà Trâm (2005) “Đối ngoại nhân dân năm 2004 – Một đóng góp quan trọng trong công tác TTĐN”, của Nguyễn Phú Bình (2006) “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài”, của Đoàn Văn Thái (2006) “Công tác vận động, tập hợp thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài”, của Trần Đại Quang (2006) “Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống thông tin, quan điểm sai trái, thù địch”, của Xuân Anh (2008) “Hoạt động TTĐN trong những năm qua tại một số bộ, ban, ngành”, Vũ Hồng Thanh (2008) “Hoạt động TTĐN góp phần quảng bá hình ảnh phong cảnh, con người Quảng Ninh”, của Đỗ Quý Doãn (2008) “Khảo sát công tác TTĐN tại Liên Bang Nga, Cộng hòa Ba Lan”, của Trần Đức Lai (2008) “Bộ Thông tin và Truyền thông với công tác TTĐN”[26].
    Bên cạnh đó, hoạt động TTĐN ở một số nước trên thế giới cũng được giới thiệu và phân tích. Đáng chú ý là bài viết của Song Bình (2004) “Vài suy nghĩ về công tác TTĐN trên thế giới ngày nay”, Việt Hoàng (2005) “Về TTĐN tại Mỹ và Canada hiện nay – Thực trạng và kinh nghiệm”, Đào Vân Anh (2006) “Sử dụng Internet trong công tác TTĐN ở Trung Quốc” [27] Các bài viết này cung cấp những tư liệu có giá trị về nội dung, hình thức, cách thức tổ chức TTĐN ở các nước và những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam cần tham khảo để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động TTĐN của mình.
    Bên cạnh đó, cho đến nay, chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào viết riêng về TTĐN của Việt Nam.
    Nhìn chung, các bài phát biểu và bài viết nêu trên là những tư liệu quý báu, góp phần làm rõ thực trạng công tác TTĐN của các đơn vị, địa phương và chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ công tác này trong thời gian tới. Tuy nhiên, đó vẫn chỉ dừng lại là những báo cáo, những suy nghĩ, phân tích về từng mảng, từng lĩnh vực, từng đối tượng của công tác TTĐN. Chưa thể gọi đó là những nghiên cứu toàn diện về hoạt động TTĐN của Việt Nam hiện nay. Để phát huy hơn nữa giá trị của những nhận xét, phân tích và suy nghĩ đó, cần thực hiện một công trình khoa học để tổng hợp chúng lại, phân tích, đánh giá, đưa ra giải pháp chung.
    Một mảng hoạt động đang thu hút được sự chú ý là công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác TTĐN. Tiêu biểu về chủ đề này là một số bài báo và tham luận khoa học của Phạm Minh Sơn “TTĐN – ngành học thời đại toàn cầu hóa” (2004)[28], “Công tác đào tạo cán bộ TTĐN ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền” (2006)[29], “Tạo dựng hình ảnh đất nước, con người” (2007)[30], “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác TTĐN trong thời kỳ mới” (2008)[31] được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và sách tham khảo. Các bài viết này đã phân tích nội dung, cách thức tổ chức, những thuận lợi và khó khăn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác TTĐN. Những nghiên cứu này sẽ là những cơ sở khoa học để đề ra giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTĐN của Việt Nam hiện nay.
    Ngoài ra, một số đề tài nghiên cứu khoa học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền về TTĐN cũng được thực hiện và đem lại kết quả thiết thực. Đáng chú ý là đề tài khoa học cấp bộ “Hoạt động TTĐC trong công tác TTĐN của Việt Nam hiện nay”[32] do Phạm Minh Sơn chủ nhiệm (2006). Đây là đề tài khoa học cấp bộ đầu tiên về TTĐN, đồng thời là sự tổng kết, hệ thống hoá quan trọng về công tác TTĐN của Việt Nam thời gian qua. Trong khuôn khổ đề tài này, các tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích vị trí, vai trò và hoạt động TTĐC - lực lượng quan trọng nhất của TTĐN. Những kết quả của đề tài này sẽ là tài liệu quý giá và sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc thực hiện đề tài.
    TTĐN với vai trò là một mảng hoạt động của công tác đối ngoại và truyền thông của các nước cũng được nhiều học giả nước ngoài phân tích. Tiêu biểu là các nghiên cứu của Philippe Breton (1996) “Bùng nổ truyền thông”, của Doris A.Graber (2000) “Media Power in Politics” (Sức mạnh của truyền thông trong chính trị)[33], của Sayling Wen (2002) “Phương tiện truyền thông trong kỷ nguyên công nghệ thông tin”[34], của Michael Schudson (2003)“Sức mạnh của tin tức truyền thông”[35], của Anya Schiffrin, Amer Bisat (2004) “Đưa tin thời toàn cầu hóa”[36]. Đây là những tài liệu quý báu cho đề tài nhằm tổng kết kinh nghiệm hoạt động truyền thông ở các nước. Trong đó có đề cập đến khía cạnh TTĐN, phân tích những mặt được và những mặt hạn chế của hoạt động này ở các nước. Những công trình nghiên cứu, sách, bài báo, báo cáo, tham luận khoa học nêu trên sẽ là những cơ sở khoa học quý báu để thực hiện đề tài.
    Từ những phân tích vừa nêu trên, đề tài khoa học “Đẩy mạnh hoạt động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay” là công trình đầu tiên nghiên cứu, phân tích, xem xét một cách đầy đủ, tổng hợp hoạt động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế và đề xuất các biện pháp góp phần đẩy mạnh hoạt động TTĐN của Việt Nam hiện nay.
    3. Mục tiêu và giới hạn nghiên cứu của đề tài
    3.1. Mục tiêu nghiên cứu
    - Làm rõ thực trạng hoạt động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.
    - Đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.
    3.2. Giới hạn nghiên cứu
    - Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động TTĐN từ năm 1992, sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 11/CT-TW về đổi mới và tăng cường công tác TTĐN. Đặc biệt tập trung phân tích, khảo sát những vấn đề trong khoảng thời gian những năm gần đây, nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006, gắn với quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài không thể không đề cập đến những vấn đề liên quan ở thời kỳ trước đó.
    - Về địa bàn nghiên cứu: Các nghiên cứu, khảo sát được tiến hành chủ yếu tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội. Một số nghiên cứu, khảo sát được tiến hành trên địa bàn của một số tỉnh, thành phố trong nước như TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng kết quả nghiên cứu, khảo sát về công tác TTĐN trên địa bàn các tỉnh, thành phố khác trong nước, cũng như trên địa bàn một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc.
    - Về đối tượng nghiên cứu: TTĐN do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện và hướng đến nhiều đối tượng ở ngoài nước cũng như trong nước với các loại hình, hình thức rất phong phú, đa dạng. Trong khuôn khổ đề tài này, đối tượng nghiên cứu là hoạt động TTĐN của một số cơ quan, tổ chức quan trọng ở trung ương đang thực thi công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân; cũng như của một số địa phương tiêu biểu. Đề tài cũng giới hạn tập trung nghiên cứu hoạt động TTĐN cho ba đối tượng đặc thù của công tác TTĐN: TTĐN cho chính phủ và nhân dân nước ngoài; TTĐN cho người nước ngoài ở Việt Nam; TTĐN cho người Việt Nam ở nước ngoài. Trong mỗi đối tượng này lại chọn những nhóm tiêu biểu để nghiên cứu.
    4. Phương pháp nghiên cứu
    Đề tài này sẽ sử dụng các phương pháp cơ bản, phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, gồm:
    - Phương pháp luận: Đề tài lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận. Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu.
    Nghiên cứu lý luận trên cơ sở những quan điểm của Đảng và Nhà nước về quan hệ quốc tế, công tác đối ngoại, công tác tư tưởng, công tác TTĐN. Kết hợp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn.
    - Phương pháp lịch sử và lôgic: các nghiên cứu đều bắt đầu từ lịch sử của vấn đề, đặt vấn đề trong bối cảnh chung của đất nước, khu vực, quốc tế. Sử dụng những tư liệu, sự kiện, dữ kiện lịch sử, chọn lọc những sự kiện điển hình để hệ thống, thống kê, mô hình hoá sự kiện. Đồng thời, các nghiên cứu sẽ phải từ những diễn biến, những sự kiện lịch sử rút ra cái cốt lõi, tổng hợp so sánh để rút ra được những kinh nghiệm, những bài học có tính quy luật, tính chỉ đạo đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay và trong tương lai.
    - Phương pháp phân tích và tổng hợp: sử dụng để thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm các văn kiện của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài.
    - Phương pháp nghiên cứu định lượng: được sử dụng khi điều tra mẫu (survey). Điều tra mẫu được tiến hành gắn với thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến bao gồm hệ thống các câu hỏi mang tính giả thuyết gắn theo phương án phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu các nhóm đối tượng của hoạt động TTĐN như người nước ngoài ở Việt Nam, hoặc thái độ, sự hiểu biết của người dân Việt Nam với công tác TTĐN.
    - Phương pháp nghiên cứu định tính: Được thể hiện thông qua các câu hỏi mở khi lập các phiếu trưng cầu ý kiến để tìm hiểu những vấn đề khó có thể thực hiện bằng nghiên cứu định lượng. Ngoài ra, phương pháp này còn được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu cá nhân hoặc nhóm. Đối tượng phỏng vấn có thể là những chuyên gia nước ngoài đang công tác, học tập ở Việt Nam, hoặc người Việt Nam ở nước ngoài đang có điều kiện về thăm đất nước.
    - Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: sử dụng để thu thập các thông tin, ý kiến đánh giá của các chuyên gia có kinh nghiệm về hội nhập quốc tế và TTĐN thông qua các buổi hội thảo, toạ đàm, trao đổi khoa học. Bên cạnh mục đích thu thập thông tin, phương pháp này còn dùng để kiểm tra mức độ tin cậy các số liệu thu được từ điều tra và phỏng vấn.
    5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
    5.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài
    Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đóng góp về mặt khoa học, lý luận:
    - Hệ thống hoá các quan niệm, khái niệm về TTĐN, các văn bản, tài liệu của Đảng và nhà nước liên quan đến TTĐN.
    - Làm phong phú thêm lý luận về nội dung, đối tượng, phương pháp hoạt động TTĐN.
    - Chỉ ra mối liên hệ biện chứng giữa chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với đẩy mạnh hoạt động TTĐN của Việt Nam.
    5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
    - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân đẩy mạnh hơn nữa hoạt động TTĐN của mình.
    - Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học của chuyên ngành TTĐN như “Đại cương TTĐN”, “Tổ chức hoạt động TTĐN”, “Thu thập xử lý TTĐN”, “Tổ chức sản xuất sản phẩm TTĐN”, “Quản lý hoạt động TTĐN”, “Các chuyên đề TTĐN” Đồng thời làm tài liệu phục vụ công tác bồi dưỡng cán bộ TTĐN.
    - Kết quả nghiên cứu của đề tài, nhất là những kiến nghị sẽ góp phần tích cực vào công tác giảng dạy, học tập, quản lý người nước ngoài, đặc biệt là sinh viên nước ngoài ở Việt Nam nói chung và ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng như ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói riêng.
    6. Kết cấu của đề tài
    Đề tài bao gồm phần mở đầu, kết luận, 4 chương, 12 tiết và danh mục tài liệu tham khảo.

    Đề cương bạn đang xem tại ******************* được trích dẫn từ bản nội dung đầy đủ.
    Trường hợp có nhu cầu tham khảo toàn bộ nội dung, độc giả có thể đặt mua tài liệu này từ thư viện.
    Vui lòng truy cập tại đây: http://*******************/datmua.php (Bấm Ctrl vào link để xem hướng dẫn)

    [1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng”, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tập 47
    [2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.112
    [3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.115.
    [4] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 28/8/2007: http://www.cpv.org.vn/details.asp?id=BT2880753137
    [5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.115
    [6] Trần Trọng Toàn, Đinh Nguyên Khiêm (1999), Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
    [7] Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Xuân Sầm (2001), Toàn cầu hoá - phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
    [8] Lê Hữu Nghĩa, Trần Khắc Việt và Lê Ngọc Tòng (2007), Xu thế toàn cầu hóa trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
    [9] Vũ Dương Ninh (2003), Toàn cầu hoá và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội
    [10] Nguyễn Vân Nam (2006), Toàn cầu hoá và sự tồn vong của nhà nước, Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh
    [11] Đinh Xuân Lý (2001), Tiến trình hội nhập Việt Nam – ASEAN, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
    [12] Phạm Văn Hằng, Lê Mậu Hãn, Vũ Dương Ninh (2005), Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
    [13] Phan Văn Khải (2006), Đổi mới sâu rộng, phát triển đất nước nhanh và bền vững, tiến cùng thời đại / T.2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
    [14] Việt Nam hướng tới 2010 - Tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam /T.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
    [15] Marie Lavigue (2002), Các nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
    [16] Nguyễn Quốc Nhật, Nguyễn Văn Ngừng (2001), Hội nhập kinh tế với vấn đề giữ gìn an ninh quốc gia ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
    [17] Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Quốc Anh, Đỗ Đức Định (2006), Văn hóa phương Đông - truyền thống và hội nhập, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
    [18] Trần Kiêm Đoàn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Văn Ngọc (2006), Văn hoá thời hội nhập, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh
    [19] Phạm Quang Nghị (2005), Công cuộc đổi mới - động lực phát triển lý luận và văn hoá, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội
    [20] Ban chỉ đạo công tác TTĐN, Tạp chí Thông tin đối ngoại, các số 1/2008
    [21] Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại (2004), Kỷ yếu Hội nghị công tác TTĐN toàn quốc tháng 3/2004, Hà Nội.
    [22] Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Tạp chí Thông tin đối ngoại, các số từ 2004 đến nay
    [23] Hồng Vinh (2006), “TTĐN góp sức tích cực thúc đẩy hội nhập quốc tế”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (28) 7/2006
    [24] Phạm Xuân Thâu (2006), “Thành tựu nổi bật và những nhiệm vụ chủ yếu của công tác TTĐN trong tình hình mới”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (23) 2/2006
    [25] Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 2, 3, 5/2008
    [26] Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Tạp chí thông tin đối ngoại, các số 3, 4/2004; số 4/2005; số 2, 8/2006; số 1, 3, 4, 6/2008
    [27] Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Tạp chí thông tin đối ngoại, các số 3/2004; số 3/2005; số 8/2006
    [28] Phạm Minh Sơn (2004), “Thông tin đối ngoại – ngành học thời đại toàn cầu hóa”, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, N3 (5-6) /2004
    [29] Phạm Minh Sơn (2006), “Công tác đào tạo cán bộ thông tin đối ngoại ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, N12 /2006
    [30] Phạm Minh Sơn (2007), “Tạo dựng hình ảnh đất nước, con người”, Quan hệ công chúng – lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
    [31] Phạm Minh Sơn (2008), “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác TTĐN trong thời kỳ mới”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, N9 /2008
    [32] Phạm Minh Sơn, “Hoạt động TTĐC trong công tác TTĐN của Việt Nam hiện nay”, Tổng quan đề tài khoa học cấp bộ năm 2006, Hà Nội
    [33] Doris A.Graber (2000), Media Power in Politics, Congressional Quarterly Inc., Washington.
    [34] Sayling Wen (2002), Future of the media (Phương tiện truyền thông trong kỷ nguyên công nghệ thông tin), Nxb Bưu điện, Hà Nội
    [35] Michael Schudson (2003), Sức mạnh của tin tức truyền thông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    [36] Anya Schiffrin, Amer Bisat (2004), Đưa tin thời toàn cầu hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

    Xem Thêm: Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đã trở thành yêu cầu nội sinh, bức thiết của đất nước ta, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển k
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đã trở thành yêu cầu nội sinh, bức thiết của đất nước ta, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển k sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu
Tài liệu mới

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status