Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    TIẾN SĨ Ảnh hưởng của sữa bổ sung pre-probiotic lên tình trạng dinh dưỡng, nhiễm khuẩn & hệ vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ 6-12 tháng tuổi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

    Nhu Ely Nhu Ely Đang Ngoại tuyến (1771 tài liệu)
    .:: Bronze Member ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Ảnh hưởng của sữa bổ sung pre-probiotic lên tình trạng dinh dưỡng, nhiễm khuẩn & hệ vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ 6-12 tháng tuổi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

    LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
    NĂM 2012

    MỤC LỤC
    Trang
    Lời cám ơn .
    Lời cam đoan .
    Danh mục các chữ viết tắt .
    Mục lục
    Danh mục các bảng .
    Danh mục các biểu đồ .
    ĐẶT VẤN ĐỀ
    Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU . .
    1.1. Hệ vi khuẩn chí đường ruột . .
    1.1.1. Khái niệm .
    1.1.2. Sự xuất hiện vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ sơ sinh
    1.1.3. Sự phân bố của các vi khuẩn đường ruột .
    1.1.4. Các loài vi khuẩn chí đường ruột .
    1.1.5. Vai trò của vi khuẩn chí đường ruột . .
    1.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột
    . .
    1.2. Probiotic, prebiotic và các nghiên cứu liên quan .
    1.2.1. Probiotic . .
    1.2.2. Prebiotic .
    1.2.3. Tác động của probiotic trên hệ vi khuẩn chí đường ruột
    1.2.4. Vai trò của probiotic với chức năng rào cản và miễn dịch .
    1.2.5. Tổng hợp nghiên cứu lâm sàng về probiotic ở trẻ nhỏ
    1.2.6. Tính an toàn, liều lượng probiotic sử dụng
    1.2.7. Hướng dẫn đánh giá probiotics sử dụng trong thực phẩm của
    WHO
    1.3. Bệnh tiêu chảy .
    1.3.1. Dịch tễ học của bệnh tiêu chảy .
    1.3.2. Định nghĩa .
    1.3.3. Phân loại bệnh tiêu chảy .
    1.3.4. Nguyên nhân bệnh tiêu chảy .
    1.3.5. Các biện pháp phòng chống bệnh tiêu chảy
    1.4. Nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính (ARI)
    1.4.1. Dịch tễ học của ARI . .
    1.4.2. Nguyên nhân gây ARI ở trẻ em . . .
    1.4.3. Các yếu tố nguy cơ thường gặp gây ARI ở trẻ em .
    1.4.4. Các giải pháp phòng chống bệnh ARI ở trẻ em
    1.5. Các biện pháp dinh dưỡng trong phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp và
    tiêu chảy cấp ở trẻ em .
    1.5.1. Nuôi con bằng sữa mẹ
    1.5.2. Bổ sung Vitamin A .
    1.5.3. Bổ sung Kẽm . .
    Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    2.1. Một số nét cơ bản về địa bàn nghiên cứu .
    2.2. Thiết kế nghiên cứu .
    2.2.1. Giai đoạn 1
    2.2.2. Giai đoạn 2
    2.2.2.1. Địa điểm, đối tượng, cỡ mẫu
    2.2.2.2. Phương pháp chọn mẫu
    2.2.2.3. Thời gian can thiệp .
    2.2.2.4. Cách tiến hành .
    2.2.2.5. Các số liệu và thời điểm thu thập số liệu trong quá trình can
    thiệp . .
    2.2.2.6. Nguồn gốc và thành phần sữa sử dụng cho nghiên cứu
    2.2.3. Các phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá
    2.3. Xử lý và phân tích số liệu .
    2.4. Đạo đức nghiên cứu
    Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
    3.1. Thực trạng NCBSM, thực hành ăn bổ sung, tình hình nuôi dưỡng và bệnh tật
    của trẻ
    3.1.1. Một số thực hành NCBSM và ăn bổ sung .
    3.1.2. Tình hình mắc tiêu chảy, viêm đường hô hấp cấp ở trẻ và một số thực
    hành chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
    3.2. Một số đặc điểm chung của đối tượng trước can thiệp . .
    3.3. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong 6 tháng can thiệp
    3.4. Tình hình bệnh tật ở trẻ trong 6 tháng can thiệp
    3.5. Sự thay đổi hệ vi khuẩn chí đường ruột của trẻ trong 6 tháng can
    thiệp .
    Chương 4. BÀN LUẬN
    4.1. Thực trạng NCBSM, thực hành ăn bổ sung, tình hình nuôi dưỡng và bệnh tật
    của trẻ
    4.2. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp
    4.3. Mức độ ảnh hưởng của sữa bổ sung prebiotic và synbiotic đến tình trạng
    dinh dưỡng của trẻ trong 6 tháng can thiệp
    4.3.1. Về cân nặng
    4.3.2. Về chiều dài nằm .
    4.3.3. Về các chỉ số WAZ, HAZ và WHZ .
    4.4. Mức độ ảnh hưởng của sữa bổ sung prebiotic và synbiotic đến nhiễm khuẩn
    tiêu hóa và hô hấp ở trẻ trong 6 tháng can
    thiệp
    4.4.1. Tình hình mắc nhiễm khuẩn đường tiêu hóa
    4.4.2. Các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp
    4.5. Ảnh hưởng lên hệ vi khuẩn chí đường ruột
    KẾT LUẬN
    KHUYẾN NGHỊ
    PHỤ LỤC
    Tài liệu tham khảo

    ĐẶT VẤN ĐỀ
    Mục tiêu thiên niên kỉ đặt ra là giảm 2/3 tỷ lệ tử vong trẻ em từ năm 1990 đến
    2015. Với sự nỗ lực không ngừng của chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế
    như UNICEF, WHO, đến nay đã có rất nhiều tiến bộ đạt được trong việc làm
    giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Nhưng cho đến nay, nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI)
    và tiêu chảy vẫn là hai bệnh đứng hàng đầu gây tử vong ở trẻ em trên toàn thế
    giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 15 triệu trẻ em bị
    chết, trong đó khoảng 5 triệu trẻ em chết vì viêm đường hô hấp cấp tính (ARI).
    Tỷ lệ mắc ARI/ tổng số trẻ em ở Iraq là 39,3%, Brazil là 41,8%, ở Anh là 30,5%,
    và tại Úc là 34% [161]. Trong các bệnh thì ARI, viêm phổi là bệnh gây tử vong
    cao nhất ở trẻ em, cao hơn AIDS, sốt rét và sởi cộng lại. Có khoảng 1,5 triệu trẻ
    em dưới 5 tuổi trên thế giới bị tử vong do viêm phổi hằng năm, chiếm khoảng
    18% tử vong (bao gồm tử vong trong tháng đầu sau sinh) trẻ em toàn cầu [167].
    Sau ARI, bệnh tiêu chảy là nguyên nhân thứ hai tử vong ở trẻ em, chiếm khoảng
    14% tử vong trẻ em dưới 5 tuổi, khoảng 1,2 triệu trẻ em mỗi năm [167].
    Tại Việt Nam, ARI cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em, chiếm
    44% trong số các bệnh gây tử vong cho trẻ ở độ tuổi này. Sau đó là bệnh tiêu
    chảy, tỷ lệ mắc tiêu chảy thường dao động theo mùa và theo độ tuổi của trẻ, trong
    đó trẻ dưới 2 tuổi là nhóm có nguy cơ cao nhất, đây cũng là thời kì trẻ được nuôi
    dưỡng bằng thức ăn bổ sung cùng với sữa mẹ. ARI và tiêu chảy cũng là hai bệnh
    gây SDD hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi.
    Năm 2008 Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn quốc là 29,4%, Tây Nguyên
    là 23,1 %, Đông Nam Bộ 30,2 %, đồng bằng Bắc Bộ là 23,9% (2008). Lượng Sắt
    trong khẩu phần đạt 6,5 mg/trẻ/ngày, đáp ứng được 73% nhu cầu khuyến nghị
    (70% ở khu vực nông thôn và 87% ở khu vực thành phố). Tình trạng vitamin A
    huyết thanh thấp vẫn còn phổ biến ở trẻ em vùng nông thôn và miền núi, chiếm
    10,8% [156]. Năm 2010 có đến 29,2% trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu máu dinh
    dưỡng [19]. Năm 2010, ở nước ta ước tính có gần 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị
    SDD thể nhẹ cân, khoảng 2,1 triệu trẻ em bị SDD thể thấp còi và 520.000 trẻ
    SDD thể gầy còm. Năm 2010, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng theo chỉ
    13
    tiêu cân nặng/tuổi trên toàn quốc là 17,5%, trong đó Tây Nguyên, miền núi phía
    Bắc và các tỉnh duyên hải miền Trung là những nơi có tỷ lệ trẻ bị SDD cao hơn
    những vùng khác, tương ứng là 24,7%, 22,1% và 19,8%. Đông nam bộ là khu
    vực có tỷ lệ trẻ bị SDD thấp nhất (10,7%). Bên cạnh việc giảm tỷ lệ trẻ bị SDD
    cân nặng /tuổi thì tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi vẫn còn ở mức cao 29,3% [19].
    Tỷ lệ trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn còn thấp (19,6%) và tỷ lệ
    bú mẹ chủ yếu là 25,4%, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau
    sinh là 61,7%, tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi được nuôi hợp lý là 54,8%, tỷ lệ trẻ được ăn
    bổ sung kịp thời là 85,0% [19].
    Mặc dù hiện nay Bộ Y tế Việt nam đã khuyến cáo các bà mẹ cần nuôi trẻ hoàn
    toàn bằng sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu sau sinh, nhưng trên thực tế, có nhiều
    bà mẹ vì nhiều lí do như mẹ thiếu sữa, bận rộn công việc, mẹ bị bệnh, nhiễm HIV
    vẫn cho trẻ ăn thêm sữa ngoài. Đây cũng là lí do khiến trẻ em phải đối mặt với
    các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hoá và hô hấp khi trẻ không được bú mẹ hoàn
    toàn và ăn bổ sung thêm thức ăn khác sớm hơn khuyến cáo.
    Trong những năm gần đây, hệ vi khuẩn trong đường ruột được nhiều nghiên cứu
    đề cập đến, chúng có vai trò rất quan trọng giúp duy trì sự ổn định nội môi của cơ
    thể và tình trạng sức khoẻ tốt. Đặc biệt, trẻ suy dinh dưỡng thường kèm theo rối
    loạn hệ vi khuẩn đường ruột, làm tăng các đợt tiêu chảy do nhiễm khuẩn cấp tính,
    và kéo theo những thay đổi của hệ miễn dịch tại đường tiêu hóa [131], [140].
    Trong số các vi khuẩn đường ruột, giới khoa học đặc biệt quan tâm nhiều tới một
    vài vi khuẩn sinh acid lactic có tác dụng có lợi lên sức khỏe của con người. Trong
    số này phải kể đến Lactobacilli và Bifidobacteria, chúng là một phần của hệ vi
    khuẩn đường ruột và đã được sử dụng trong các sản phẩm sữa khác nhau.
    Theo Tổ chức Y tế thế giới, Probiotic được định nghĩa là các vi khuẩn có lợi cho
    sức khoẻ của con người khi ăn (bổ sung) vào một lượng nhất định [70]. Probiotic
    ngày nay đã trở nên phổ biến đối với các bác sĩ lâm sàng cũng như cộng đồng và
    nhận được sự quan tâm mạnh mẽ. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã tập trung vào
    các cơ chế nhằm giải thích các lợi ích lâm sàng của một số vi khuẩn được sử
    14
    dụng trong nhi khoa. Bên cạnh các nghiên cứu chỉ sử dụng probiotic đơn lẻ,
    nhiều nghiên cứu kết hợp probiotic và prebiotic được tiến hành nhằm tìm hiểu tác
    dụng phối hợp giữa probiotic và prebiotic “sự kết hợp prebiotic và probiotic được
    gọi là Synbiotic” [135].
    Việc bổ sung prebiotic, probiotic kết hợp với prebiotic (synbiotic) vào sữa bột
    làm cho nó có tính chất gần giống với sữa mẹ hơn, có thể là biện pháp nhằm giúp
    những đứa trẻ, mà mẹ của chúng không có điều kiện NCBSM hoặc NCBSM
    hoàn toàn do gánh nặng công việc hoặc do thiếu sữa hoặc vì một lí do khác và
    phải ăn bổ sung sớm, giảm thiểu các bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp
    phổ biến ở trẻ góp phần làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, tử vong cho trẻ.
    Trong nghiên cứu này sử dụng 4 loại sữa khác nhau (sữa công thức không bổ
    sung, sữa bổ sung prebiotic; sữa bổ sung probiotic kết hợp với các liều khác nhau
    của prebiotic) nhằm đánh giá ảnh hưởng của sữa đến tình trạng dinh dưỡng, tình
    hình mắc bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp, cũng như hệ vi khuẩn chí
    đường ruột ở trẻ từ 6-12 tháng tuổi, tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
    MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
    1. Mô tả thực trạng NCBSM, thực hành ăn bổ sung, tình hình nuôi dưỡng và
    bệnh tật của trẻ từ 5-6 tháng tuổi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
    2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của sữa bổ sung prebiotic và synbiotic (probiotic
    kết hợp với prebiotic) đến tình trạng dinh dưỡng, tình trạng nhiễm khuẩn và hệ vi
    khuẩn chí đường ruột ở trẻ từ 6-12 tháng tuổi trong 6 tháng can thiệp.

    Xem Thêm: Ảnh hưởng của sữa bổ sung pre-probiotic lên tình trạng dinh dưỡng, nhiễm khuẩn & hệ vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ 6-12 tháng tuổi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Ảnh hưởng của sữa bổ sung pre-probiotic lên tình trạng dinh dưỡng, nhiễm khuẩn & hệ vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ 6-12 tháng tuổi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu
Tài liệu mới

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status