Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    TIẾN SĨ Phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18524 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình

    ii
    LỜI CẢM ƠN

    Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm
    giúp đỡ nhiệt tình của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Quản lý đào tạo, Ban chủ
    nhiệm cùng tập thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ
    môn Phát triển nông thôn để tôi có được những điều kiện thuận lợi nhất hoàn thành luận
    án. Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ rất quí báu này.
    Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền
    đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, chia sẻ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập,
    nghiên cứu để thực hiện và hoàn thành luận án.
    Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình,
    UBND các huyện, xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình; các cơ quan, đơn vị, các địa phương
    đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi tiến hành thu thập số liệu và các vấn đề có liên quan
    để thực hiện các nội dung nghiên cứu của luận án.
    Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Quỳnh Phụ cùng toàn thể các
    anh, chị em, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ và cổ vũ, động viên
    tôi hoàn thành luận án.
    Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình đã luôn luôn
    động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện tốt nhất về vật chất, tinh thần cũng như thời gian
    để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án.
    Trân trọng cảm ơn!

    Hà Nội, ngày tháng năm 2017
    Tác giả luận án




    Nguyễn Văn Nhiễm
    nghiệp Việt Nam,
    năm 2017
    Tác giả iii
    MỤC LỤC
    Trang
    Lời cam đoan i
    Lời cảm ơn . ii
    Mục lục iii
    Danh mục chữ viết tắt vii
    Danh mục bảng . viii
    Danh mục hình, sơ đồ . x
    Danh mục biểu đồ . xi
    Danh mục hộp xii
    Trích yếu luận án xiii
    Thesis abstract . xv
    Phần 1. Mở đầu . 1
    1.1. Tính cấp thiết của luận án . 1
    1.2. Mục tiêu nghiên cứu . 3
    1.2.1. Mục tiêu chung . 3
    1.2.2. Mục tiêu cụ thể . 3
    1.3. Đối tượng nghiên cứu . 3
    1.4. Phạm vi nghiên cứu 3
    1.4.1. Phạm vi về nội dung . 3
    1.4.2. Phạm vi về không gian . 3
    1.4.3. Phạm vi về thời gian . 4
    1.5. Những đóng góp mới của đề tài 4
    1.5.1. Về học thuật 4
    1.5.2. Về thực tiễn . 4
    Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây vụ đông . 5
    2.1. Lý luận về phát triển sản xuất cây vụ đông 5
    2.1.1. Một số quan điểm và khái niệm 5
    2.1.2. Vai trò của phát triển sản xuất cây vụ đông . 7
    2.1.3. Đặc điểm và phân loại sản xuất cây vụ đông . 9
    2.1.4. Nội dung phát triển sản xuất cây vụ đông 12 iv
    2.1.5. Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây vụ đông 17
    2.2. Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất cây vụ đông 24
    2.2.1. Kinh nghiệm phát triển sản xuất cây ngắn ngày ở một số nước trên thế
    giới và trong khu vực 24
    2.2.2. Tình hình và kinh nghiệm phát triển vụ đông ở các địa phương 25
    2.2.3. Các bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn . 37
    2.3. Các nghiên cứu có liên quan . 38
    Tóm tắt phần 2 41
    Phần 3. Phương pháp nghiên cứu . 42
    3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu . 42
    3.1.1. Điều kiện tự nhiên 42
    3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội . 45
    3.1.3. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và thách thức trong dự báo dài hạn
    phát triển kinh tế của tỉnh . 53
    3.2. Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 55
    3.2.1. Phương pháp tiếp cận . 55
    3.2.2. Khung phân tích 56
    3.3. Phương pháp thu thập thông tin 57
    3.3.1. Thông tin thứ cấp 57
    3.3.2. Thông tin sơ cấp . 58
    3.4. Phương pháp phân tích . 60
    3.4.1. Phương pháp thống kê mô tả 60
    3.4.2. Phương pháp thống kê so sánh . 60
    3.4.3. Phương pháp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn sản xuất cây
    vụ đông thông qua sử dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy Logistic . 60
    3.4.4. Phương pháp phân tích SWOT . 62
    3.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 63
    3.5.1. Các chỉ tiêu mô tả về đặc điểm, nguồn lực các tác nhân trong sản xuất 63
    3.5.2. Chỉ tiêu mô tả thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông . 63
    3.5.3. Chỉ tiêu xác định kết quả và hiệu quả trong phát triển sản xuất cây vụ
    đông 64
    3.5.4. Chỉ tiêu đánh giá yếu tố ảnh hưởng 65 v
    Tóm tắt phần 3 66
    Phần 4. Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây vụ đông
    của tỉnh Thái Bình 67
    4.1. Thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình 67
    4.1.1. Khái quát về tình hình sản xuất ngành trồng trọt của tỉnh Thái Bình . 67
    4.1.2. Thay đổi quy mô sản xuất cây vụ đông của tỉnh Thái Bình . 71
    4.1.3. Phát triển hình thức tổ chức sản xuất cây vụ đông . 74
    4.1.4. Thay đổi cơ cấu diện tích gieo trồng cây vụ đông của tỉnh Thái Bình . 80
    4.1.5. Áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất cây vụ đông 82
    4.1.6. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm 86
    4.1.7. Kết quả và hiệu quả sản xuất cây vụ đông ở Thái Bình . 92
    4.2. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây vụ đông 104
    4.2.1. Điều kiện tự nhiên 104
    4.2.2. Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất cây vụ đông . 106
    4.2.3. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển sản xuất cây vụ đông 108
    4.2.4. Công tác truyền thông về phát triển sản xuất cây vụ đông . 109
    4.2.5. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất cây vụ đông . 111
    4.2.6. Nguồn lực sản xuất của hộ 114
    4.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng sản xuất cây vụ đông . 122
    Tóm tắt phần 4 125
    Phần 5. Định hướng và giải phát triển sản xuất cây vụ đông trên địa bàn tỉnh
    Thái Bình . 126
    5.1. Căn cứ đề xuất giải pháp 126
    5.1.1. Các căn cứ pháp lý 126
    5.1.2. Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm rau, quả an toàn của thị trường . 126
    5.1.3. Căn cứ vào thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất
    cây vụ đông ở Thái Bình 127
    5.2. Quan điểm, định hướng phát triển sản xuất cây vụ đông 130
    5.2.1. Quan điểm phát triển sản xuất cây vụ đông 130
    5.2.2. Định hướng phát triển sản xuất cây vụ đông 131
    5.3. Các giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất cây vụ đông tỉnh Thái Bình . 132
    5.3.1. Giải pháp về chính sách 132 vi
    5.3.2. Giải pháp về điều chỉnh và quản lý quy hoạch . 134
    5.3.3. Giải pháp tăng cường liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vụ
    đông 136
    5.3.4. Giải pháp về nguồn lực phát triển sản xuất cây vụ đông 139
    5.3.5. Giải pháp về phát triển hệ thống hạ tầng 141
    5.3.6. Giải pháp về hoạt động nâng cao năng lực cho các tác nhân liên quan . 142
    5.3.7. Giải pháp thị trường và tiêu thụ sản phẩm 143
    5.3.8. Giải pháp về kỹ thuật canh tác 145
    Tóm tắt phần 5 147
    Phần 6. Kết luận và kiến nghị 148
    6.1. Kết luận . 148
    6.2. Kiến nghị 149
    Danh mục công trình đã công bố 151
    Tài liệu tham khảo 152
    Phụ lục 158 vii
    DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
    Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
    ASEAN Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các quốc gia
    Đông Nam Á)
    BQ Bình quân
    BVTV Bảo vệ thực vật
    CC Cơ cấu
    CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
    ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
    ĐVT Đơn vị tính
    FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ
    chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
    HACCP Hazard Analysis and Critical Control Points (Hệ thống phân
    tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn)
    HTX Hợp tác xã
    IPM Integrated Pest Management (Quản lý dịch hại tổng hợp)
    KHKT Khoa học kỹ thuật
    MH Mô hình
    NhNN Ngân hàng nhà nước
    OECD Organization for Economic Co-operation and Development (Tổ
    chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
    PTNT Phát triển nông thôn
    QĐ Quyết định
    SL Số lượng
    SX Sản xuất
    SXHH Sản xuất hàng hóa
    SXNN Sản xuất nông nghiệp
    TTg Thủ tướng
    UBND Ủy ban nhân dân
    VND Việt nam đồng
    VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
    WTO World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới) viii
    DANH MỤC BẢNG
    TT Tên bảng Trang
    2.1. Thống kê khoảng pH phù hợp cho từng loại cây trồng . 18
    2.2. Chỉ số tăng vụ ở một số nước trên thế giới . 24
    3.1. Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của tỉnh . 47
    3.2. Tình hình phân bổ dân số tỉnh Thái Bình 49
    3.3. Tình hình trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật của tỉnh . 50
    3.4. Kết quả sản xuất kinh doanh một số ngành chính của tỉnh . 52
    3.5. Mô tả các biến độc lập sử dụng trong mô hình hồi qui . 61
    4.1. Tình hình sản xuất cây trồng của Thái Bình giai đoạn 2011-2015 . 71
    4.2. Diện tích gieo cấy các trà lúa vụ mùa ở Thái Bình giai đoạn 2011-2015 . 72
    4.3. Diện tích gieo cấy bình quân trà lúa vụ mùa của ở các vùng của tỉnh Thái
    Bình giai đoạn 201-2015 . 72
    4.4. Diện tích đất trồng cây màu ở Thái Bình năm 2011-2015 73
    4.5. Diện tích đất trồng cây màu bình quân ở các vùng của tỉnh Thái Bình giai
    đoạn 2011-2015 . 74
    4.6. Điều kiện sản xuất của các nhóm hộ điều tra 75
    4.7. Diện tích và cơ cấu cây trồng vụ đông năm 2011 - 2015 ở tỉnh Thái Bình 80
    4.8. Cơ cấu cây trồng vụ đông bình quân/hộ ở các vùng của tỉnh Thái Bình 81
    4.9. Tỷ lệ hộ sử dụng các nguồn giống để gieo trồng 83
    4.10. Tỷ lệ hộ sử dụng phân để gieo trồng . 85
    4.11. Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản vụ đông . 87
    4.12. Loại hình sản phẩm vụ đông tiêu thụ trên thị trường 90
    4.13. Tỷ trọng sản phẩm vụ đông tiêu thụ theo đối tượng bán 91
    4.14. Năng suất của một số cây trồng chính ở Thái Bình năm 2011-2015 93
    4.15. Sản lượng một số cây trồng vụ đông tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011-2015 . 95
    4.16. Giá trị sản xuất một số cây trồng vụ đông tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011-2015 . 96
    4.17. Hiệu quả của một số cây trồng vụ đông ở vụ đông . 97
    4.18. Tình hình thu nhập của các hộ điều tra . 98 ix
    4.19. Kết quả dồn điền đổi thửa phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp của
    tỉnh Thái Bình . 106
    4.20. Tỷ lệ hộ điều tra được thụ hưởng một số chính sách nhà nước các cấp . 108
    4.21. Mức độ vi phạm quy hoạch ở hai vùng sản xuất tập trung . 109
    4.22. Đánh giá kết quả công tác tuyên truyền về phát triển sản xuất cây vụ đông
    trên địa bàn tỉnh Thái Bình 110
    4.23. Tình hình triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất
    nông nghiệp tỉnh Thái Bình . 111
    4.24. Đánh giá về hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất nông
    nghiệp tỉnh Thái Bình 113
    4.25. Lao động và cơ cấu lao động của tỉnh Thái Bình phân theo ngành kinh tế
    giai đoạn 2011- 2015 . 116
    4.26. Vốn bình quân của các hộ gia đình phục vụ phát triển sản xuất cây vụ đông 118
    4.27. Mức độ liên kết và khả năng áp dụng trong chuyển giao khoa học kỹ thuật 120
    4.28. Một số hoạt động nâng cao trình độ được thực hiện . 120
    4.29. Sự tham gia của người dân vào các lớp tập huấn 121
    4.30. Kết quả mô hình 123
    5.1. Phân tích ma trận SWOT trong phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh
    Thái Bình . 129

    x
    DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
    TT Tên hình, sơ đồ Trang
    3.1. Sơ đồ vị trí của tỉnh Thái Bình 42
    3.2. Bản đồ hệ thống sông, cửa sông lớn ở tỉnh Thái Bình 44
    3.3. Sơ đồ phân tích SWOT trong phát triển sản xuất cây vụ đông . 62
    3.1. Khung phân tích về phát triển sản xuất cây vụ đông . 57


    xi
    DANH MỤC BIỂU ĐỒ
    3.1. Diễn biến lượng mưa và độ ẩm trong 12 tháng của tỉnh Thái Bình 44
    4.1. Tỷ lệ diện tích theo công thức canh tác nông nghiệp Thái Bình . 70
    4.2. Số lượng doanh nghiệp đầu tư sản xuất vụ đông giai đoạn 2005-2015 . 77
    4.3. Số lượng tổ hợp tác tham gia sản xuất vụ đông giai đoạn 2005-2015 79
    4.4. Đánh giá của hộ dân về việc so sánh thu nhập từ sản xuất vụ đông với các
    hoạt động khác tạo ra thu nhập trong cùng khoảng thời gian 100
    4.5. Đánh giá của hộ dân về khả năng tạo việc làm từ sản xuất vụ Đông với các
    hoạt động khác tạo ra thu nhập trong cùng khoảng thời gian 101
    4.6. Đánh giá của hộ dân về việc so sánh tính liên kết cộng đồng trong sản xuất
    vụ Đông . 102
    4.7. Đánh giá của hộ dân về hiệu quả môi trường trong sản xuất vụ đông 103
    4.8. Giá một số phân bón chủ yếu giai đoạn 2005-2012 117

    TT Tên biểu đồ Trang xii
    DANH MỤC HỘP
    TT Tên hộp Trang
    4.1. Một số khó khăn của doanh nghiệp đầu tư sản xuất vụ đông ở Thái Bình 77
    4.2. Nguyên nhân phần lớn hộ dân bán sản phẩm tươi 90
    4.3. Nguyên nhân chuyển đổi cây trồng vụ đông . 111
    4.4. Sự khó khăn của người dân khi tiếp cận nguồn vốn chính thống . 118
    xiii
    TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
    Tên tác giả: Nguyễn Văn Nhiễm
    Tên luận án: Phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình
    Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 62 62 01 15
    Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
    Mục đích nghiên cứu
    Mục tiêu về lý luận: Nghiên cứu góp phần xây dựng luận cứ khoa học về phát
    triển sản xuất cây vụ đông, đặc biệt trong bối cảnh xuất hiện khái niệm mới về cây vụ
    đông ưa ấm và cây vụ đông ưa lạnh.
    Mục tiêu thực tiễn: Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông trên địa
    bàn tỉnh Thái Bình, hiệu quả từ việc phát triển sản xuất cây vụ đông trên cả ba khía
    cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường. Đề tài sử dụng mô hình hồi quy phân tích các yếu
    tố ảnh hưởng tới quyết định phát triển sản xuất cây vụ đông; phân tích điểm mạnh, điểm
    yếu, cơ hội, thách thức, làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp phát triển sản xuất cây vụ
    đông tại địa bàn nghiên cứu.
    Phương pháp nghiên cứu
    Luận án sử dụng kết hợp số liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp phân tích định
    tính và định lượng để phân tích thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất
    cây vụ đông trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Cụ thể, mô hình kinh tế lượng hồi quy logistic
    được sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn phát triển sản xuất cây vụ
    đông. Phương pháp phân tích SWOT được sử dụng để tìm ra những điểm mạnh, điểm
    yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển sản xuất cây vụ đông tại địa bàn nghiên cứu.
    Kết quả chính và kết luận
    - Thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình: Thái Bình đã đạt
    được một số thành tựu nhất định với các loại cây trồng có giá trị như cây ớt, dưa bí, xu
    hào bắp cải, hành tỏi, rau màu khác có xu hướng tăng về diện tích với tỷ lệ tăng tương
    ứng là 74,03%, 179,22%, 19,87%, 116,67%, 74,64%; trong khi đó diện tích các cây
    trồng khác như ngô, đậu tương, khoai tây, khoai lang có xu hướng giảm, tỷ lệ giảm
    tương ứng là 21,40%, 63,51%, 14,44%, 16,62%. Năng suất và giá trị cây trồng cũng có
    sự thay đổi đáng kể. Các loại cây rau, ớt, hành tỏi có xu hướng tăng giúp nâng giá trị vụ
    đông lên 2.617 tỷ đồng mỗi năm, trong khi các loại cây truyền thống như ngô chăn nuôi,
    đậu tương, khoai lang có xu hướng giảm mạnh. Hiện nay, hình thức sản xuất trên địa
    bàn tỉnh vẫn chủ yếu là hộ gia đình nhưng xu hướng người dân hợp tác trong sản xuất xiv
    ngày càng tăng với việc hình thành các tổ hợp tác trong sản xuất cũng như các liên kết
    giữa tổ hợp tác với các doanh nghiệp. Việc tiêu thụ sản phẩm vụ đông tuy có những
    thuận lợi song về lâu dài cần phải tính đến phương án liên kết bền vững, tránh sự bấp
    bênh về giá gây thiệt hại cho người dân. Trong những năm gần đây tiêu thụ sản phẩm
    thông qua hợp đồng liên kết cũng đã được các địa phương coi trọng và khuyến khích
    người dân tham gia, tuy nhiên các liên kết này vẫn còn lỏng lẻo, hình thức và chưa có
    chế tài đủ mạnh để xử lý khi xảy ra tranh chấp.
    - Hiệu quả sản xuất cây vụ đông: Phát triển sản xuất cây vụ đông mang lại
    nguồn thu nhập cho người dân Thái Bình từ 11- 13% tổng thu nhập hàng năm của các
    hộ nông dân. Tuy nhiên các vùng khác nhau thì thu nhập cũng khác nhau, đối với huyện
    Quỳnh Phụ việc phát triển cây ớt đã mang lại giá trị sản xuất từ 16-19 triệu đồng/sào,
    đối với các vùng ven đô thị với lợi thế về giao thông giúp phát triển các loại rau màu
    mang lại thu nhập ổn định cho người dân, hiện nay hành, tỏi cũng giúp cho các hộ dân ở
    Thái Thụy, Tiền Hải nguồn thu lớn. Phát triển sản xuất cây vụ đông không chỉ mang lại
    hiệu quả về mặt kinh tế mà còn mang lại nhiều giá trị về xã hội và môi trường, đây cũng
    là mục tiêu quan trọng mà địa phương hướng đến trong phát triển sản xuất cây vụ đông.
    - Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây vụ đông: phát triển sản xuất cây
    vụ đông còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như các chính sách ưu tiên phát triển sản
    xuất cây vụ đông, quy hoạch và quản lý quy hoạch, hệ thống cơ sở hạ tầng của địa
    phương, vốn, lao động, trình độ và đặc biệt là thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường
    đầu vào vật tư Các yếu tố này đang tác động đến phát triển sản xuất cây vụ đông ở
    trên cả hai khía cạnh thuận lợi và khó khăn.
    - Giải pháp phát triển sản xuất cây vụ đông: Trên cơ sở thực trạng, định hướng
    phát triển sản xuất cây vụ đông của tỉnh Thái Bình, để phát triển sản xuất cây vụ đông
    trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về kỹ thuật đặc biệt nhấn mạnh
    về giống, kỹ thuật canh tác theo các quy trình sản xuất an toàn; các giải pháp về hoàn
    thiện và quản lý quy hoạch vùng sản xuất tập trung; huy động hỗ trợ các nguồn lực cho
    phát triển sản xuất cây vụ đông trong đó ưu tiên giải pháp huy động vốn nhanh thông
    qua hoạt động vay tín chấp; Ngoài ra, còn các giải pháp khác như tăng cường công tác
    khuyến nông, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. xv
    THESIS ABSTRACT
    PhD candidate: Nguyen Van Nhiem
    Thesis title: Development of winter crop production in Thai Binh province
    Major: Agricultural Economics Code: 62 62 01 15
    Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
    Research Objectives
    Theoretical Objectives: The study contributes to build the scientific foundation
    for development of winter crop, especially in the context of appearance of new concept
    on winter crops suitable for cold weather and winter crops suitable for warm weather.
    Practical Objectives: The dissertation has assessed the current situation of winter
    crop development in Thai Binh province, effectiveness of winter crop development in
    three aspects: economic, social, and environmental field. The study has applied regression
    model analyzing factors that influence decision to develop the winter crop production.
    Materials and Methods
    The dissertation combines primary and secondary data, qualitative and quantitative
    analysis method to analyze the situation, factors affecting the development of
    production of winter crop in Thai Binh province. Specifically, Logistic regression was
    used to analyze factors that influence decision to develop the winter crop production.
    SWOT analysis method was used to find out the strengths, weaknesses, opportunities
    and challenges in the development of winter crop production in the study area.
    Main findings and conclusions
    - Development of winter crop production in Thai Binh province: Thai Binh has
    achieved a certain number of achievements with valuable crops such as capsicum,
    melon, squash, kohlrabi, cabbage, onion, and other vegetables. These crops tend to
    increase in size with growth rate is 74,03%, 179,22%, 19,87%, 116,67%, 74,64%,
    respectively. In contrast, the area of other crops such as corn, soybeans, potatoes, sweet
    potatoes tend to decrease, the rate is 21,40%, 63,51%, 14,44%, 16,62%, respectively.
    Winter crop’s productivity and value also have changed dramatically. Vegetables,
    pepper, onion, and garlic tend to increase in the value (2617 billion VND each year);
    meawhile, other transmission plant systems such as corn for breeding, soybean, and
    sweet potato have a sharply downtrend. Currently, mode of production in the province
    is still mainly household, but people tend to increasingly cooperate in production by
    forming cooperatives and linking between cooperatives and enterprises. The
    consumption of winter products has many advantages; however, Thai Binh need to take
    into account sustainale links in the long term in order to minimize uncertainty regrading xvi
    price that causing damage to local farmers. In recent years, even through contract
    farming in consumption has been encouraged in many regions, but these links are still
    loose, and lack of strong sanctions to handle in case of disputes.
    - Efficiency of winter crop production: Development of winter crop production
    brings from 11 to 13% total annual income for farmer households in Thai Binh
    province. Nevertheless, the different regions have different income. For Quynh Phu
    district, for example, development of pepper has brought production value from 16 to
    19 million VND/sao. For peri-urban area, the advantage of traffic has helped to develop
    vegetables that bring a stable income for farmers. For example, development of garlic
    also helps to households in Thai Thuy and Tien Hai having major source of income.
    Development of winter crop production not only brings economic efficiency but also
    bring a lot of value to society and the environment.
    - Affected factors on development of winter crop production: Development of
    winter crop production is influenced by many factors, such as policies, planning, and
    planning management, infrastructure system, capital, labor, and market (input and
    output market). These factors have affected the development of winter crop production
    on both favourable aspects and difficulties.
    - Solutions for development of winter crop production: based on real stuation,
    development-oriented winter crop in Thai Binh province, in order to development of
    winter crop production in the future need to perform synchronous solutions about: (1)
    techniques (emphasize on seed), farming techniques under safe production processes;
    (2) solutions for planning and managing concentrated production areas; (3) supporting
    mobilization of resources for the development of winter crop with priority in raising
    funds through mortgage loan activity. Besides, there are other solutions, partically
    strengthening agricultural extension and supporting product sales. 1
    PHẦN 1. MỞ ĐẦU
    1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
    Xu thế đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, năng suất cây trồng trong
    những năm gần đây tăng không đáng kể trong bối cảnh nhu cầu lương thực, thực
    phẩm của con người ngày càng tăng, đòi hỏi sản xuất nông nghiệp cần phải có
    những giải pháp hiệu quả để tăng sản lượng cây trồng. Sản xuất cây vụ đông
    được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm làm tăng sản lượng và
    giải quyết nhu cầu về lương thực, thực phẩm của người dân. Bên cạnh đó, sản
    xuất cây vụ đông còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động đang dư
    thừa ở nông thôn, tăng thu nhập của người dân nông thôn, tăng nguồn nguyên
    liệu cho ngành công nghiệp chế biến và là biện pháp quan trọng để góp phần tăng
    độ phì nhiêu cho đất đặc biệt là đối với các thửa đất dùng để canh tác hai vụ lúa
    chất lượng cao.
    Cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng, kinh tế ngày càng phát triển thì
    nhu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm ngày càng tăng cao, trong đó rau
    xanh là đối tượng đang được đặc biệt quan tâm. Vì rau là thực phẩm không thể
    thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày, là nguồn cung cấp vitamin, chất khoáng,
    vi lượng, chất xơ . cho cơ thể con người không thể thay thế. Do đó, phát triển
    sản xuất cây vụ đông không những giúp chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao
    thu nhập đời sống cho người nông dân; đóng góp đa dạng hóa sản phẩm, mà còn
    có vai trò quan trọng trong cung cấp sản phẩm có chất lượng, an toàn cho người
    tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thì trường thế giới (Nguyễn Thị
    Hoài, 2015).
    Hiện nay, hầu hết các tỉnh miền Bắc, Bắc Trung bộ của nước ta đều quan
    tâm phát triển vụ đông. Tuy nhiên, cũng không ít nơi người dân thờ ơ với vụ
    đông do việc sản xuất còn gặp phải không ít khó khăn. Đầu ra không ổn định
    trong khi giá cả các yếu tố đầu vào lại ngày một tăng đang cản trở người dân đầu
    tư phát triển vụ đông. Bên cạnh đó, người dân có cơ hội tốt hơn từ các hoạt động
    phi nông nghiệp dẫn tới tình trạng lãng phí trong sử dụng nguồn lực đất đai, các
    kinh nghiệm sản xuất cây vụ đông của người nông dân và bỏ qua các cơ hội
    trong phát triển các cây trồng có giá trị và hiệu quả (Sở NN& PTNT tỉnh Thái
    Bình, 2014).
    Thái Bình là tỉnh thuần nông, những năm qua tỉnh xác định vụ đông là vụ
    quan trọng góp phần giải quyết việc làm, thu nhập cho các hộ nông dân. Do đó, 2
    hàng năm tỉnh bố trí trồng 35.000-38.000ha cây vụ đông chiếm 46,7% tổng diện
    tích gieo trồng của toàn tỉnh. Các địa phương cũng đặc biệt chú trọng phát triển
    sản xuất cây vụ đông ưa ấm với việc bố trí khoảng 25.000 - 30.000 ha trà lúa
    mùa sớm để tạo quỹ đất cho sản xuất cây vụ đông ưa ấm. Đồng thời, hàng năm
    các địa phương trong tỉnh đã triển khai đề án phát triển sản xuất cây vụ đông với
    nhiều giải pháp được đưa ra. Tuy nhiên, sản xuất cây vụ đông ở Thái Bình vẫn
    gặp nhiều khó khăn liên quan đến quy mô sản xuất nhỏ lẻ, từ 3-5 sào; liên kết
    giữa sản xuất và tiêu thụ còn lỏng lẻo, chủ yếu là liên kết phi chính thống, không
    có hợp đồng; quy hoạch sản xuất cây vụ đông chưa đồng bộ với quy hoạch kinh
    tế - xã hội nói chung, quy hoạch sản xuất nông nghiệp nói riêng. Để khắc phục
    tình trạng trên và nhằm đẩy mạnh phát triển vụ đông theo hướng hàng hóa và
    phát triển vụ đông thật sự mang lại hiệu quả cho người nông dân thì việc thúc
    đẩy phát triển sản phẩm nông sản sạch đáp ứng nhu cầu thị trường, việc quy
    hoạch những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, định hướng sản xuất các loại cây
    trồng có giá trị cao, áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp an toàn GAP (Good
    Agricultural Practices) là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với vụ đông của
    tỉnh Thái Bình. Việc phát triển vụ không chỉ từ phía chính quyền mà cần phải
    huy động và phát huy vai trò của toàn xã hội thông qua việc khuyến khích doanh
    nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản với nông dân; phát
    triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
    Hỗ trợ tập huấn, khuyến nông và các dịch vụ tư vấn nhằm nâng cao kỹ thuật gieo
    trồng, chăm sóc và thu hoạch cho nông dân. Hướng dẫn người nông dân áp dụng
    các biện pháp thâm canh bền vững, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, thực hiện tốt các quy
    định về môi trường trong sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và xử lý chất
    thải nông nghiệp. Đồng thời hoàn thiện hệ thống hạ tầng nông thôn, chú trọng
    khâu bảo quản chế biến sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ và xuất khẩu.
    Sản xuất vụ đông nói chung, phát triển sản xuất các loại cây vụ đông nói
    riêng đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
    nước, điển hình như nghiên cứu của Hoàng Đức Phương (1981), Đinh Văn Đãn
    (2002), Greg (2012), Nguyễn Thị Hoài (2015). Những nghiên cứu này đã phân
    tích các khía cạnh khác nhau trong phát triển sản xuất vụ đông và cây vụ đông, từ
    vấn đề lý luận đến thực tiễn, từ quy mô vùng kinh tế đến các đơn vị nhỏ hơn như
    tỉnh, huyện. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về phát triển sản xuất cây vụ
    đông trên địa bàn tỉnh Thái Bình, trong đó đối tượng nghiên cứu bao gồm cả cây
    vụ đông ưa ấm và cây vụ đông ưa lạnh. 3
    1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
    1.2.1. Mục tiêu chung
    Nghiên cứu thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông và đề xuất các giải
    pháp phát triển sản xuất cây vụ đông của tỉnh Thái Bình.
    1.2.2. Mục tiêu cụ thể
    - Góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển
    sản xuất cây vụ đông;
    - Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông của tỉnh Thái Bình
    trong thời gian qua;
    - Phân tích các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây vụ
    đông của tỉnh Thái Bình;
    - Đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh
    Thái Bình đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030.
    1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
    - Khách thể nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu các vấn đề kinh tế và
    quản lý trong phát triển cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình.
    - Chủ thể nghiên cứu: Chủ thể nghiên cứu của đề tài là các loại cây trồng
    trong vụ đông ở tỉnh Thái Bình, bao gồm các loại cây rau, màu, cây gia vị, cây
    lương thực được trồng trong vụ đông.
    - Đối tượng khảo sát: Đề tài tiến hành điều tra, khảo sát các hộ nông dân
    sản xuất cây vụ đông, các nhà quản lý nhà nước, cán bộ khuyến nông, lãnh đạo
    các doanh nghiệp, HTX, người thu gom và các tác nhân khác có liên quan đến
    hoạt động phát triển sản xuất cây vụ đông.
    1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
    1.4.1. Phạm vi về nội dung
    Phân tích thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình. Tìm
    hiểu những yếu tố ảnh hưởng trong việc phát triển sản xuất cây vụ đông. Từ đó,
    đề tài tập trung đưa ra định hướng và các giải pháp đồng bộ trong việc phát triển
    sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình.
    1.4.2. Phạm vi về không gian
    Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Bình, trong đó đặc
    biệt nghiên cứu sâu tại 3 huyện Quỳnh Phụ, Thái Thụy và thành phố Thái Bình. 4
    Đây là những địa phương đại diện cho 3 vùng sinh thái của tỉnh Thái Bình, cụ thể
    huyện Quỳnh Phụ đại diện cho vùng thuần nông, huyện Thái Thụy đại diện cho
    vùng ven biển và thành phố Thái Bình đại diện cho vùng đô thị.
    1.4.3. Phạm vi về thời gian
    + Các thông tin thứ cấp được khảo sát trong giai đoạn từ năm 2011 đến
    năm 2015.
    + Thông tin sơ cấp được khảo sát trong các năm 2015.
    + Các giải pháp đề xuất cho phát triển sản xuất cây vụ đông đến 2020 và
    tầm nhìn đến năm 2030.
    1.5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
    1.5.1. Về học thuật
    Luận án đã hệ thống hóa và góp phần phát triển cơ sở lý luận về phát triển
    sản xuất cây vụ đông, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay xuất hiện khái niệm mới
    về cây vụ đông ưa ấm và cây vụ đông ưa lạnh. Như vậy, khái niệm sản xuất cây
    vụ đông được mở rộng về thời gian, mùa vụ, sản xuất cây vụ đông không chỉ giới
    hạn ở cây vụ đông ưa lạnh mà mở rộng với cả cây vụ đông ưa ấm. Đóng góp này
    giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp ở cấp
    trung ương và địa phương có những quyết sách đúng đắn, kịp thời liên quan đến
    định hướng, quy hoạch và phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung, cây vụ
    đông nói riêng.
    Bên cạnh đó, luận án đã chỉ ra phát triển sản xuất cây vụ đông là một xu
    hướng phát triển tất yếu và bền vững, góp phần nâng cấp và hoàn thiện chuỗi giá
    trị ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng.
    1.5.2. Về thực tiễn
    Luận án đã phân tích, đánh giá được thực trạng phát triển sản xuất cây vụ
    đông trên địa bàn tình Thái Bình, hiệu quả từ việc phát triển sản xuất cây vụ đông
    mang lại trên cả 3 khía cạnh về kinh tế, xã hội và môi trường. Trên cơ sở phân
    tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây vụ đông, các giải pháp phát
    triển sản xuất cây vụ đông Thái Bình được đề ra mang tính hệ thống, đặc biệt
    nhấn mạnh đến giải pháp liên kết, chính sách, quy hoạch, tiêu thụ sản phẩm, .
    đây cũng là những giải pháp cụ thể có thể áp dụng phù hợp với một số địa
    phương có điều kiện Sản xuất cây vụ đông tương tự của tỉnh Thái Bình.
    5
    PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
    SẢN XUẤT CÂY VỤ ĐÔNG
    2.1. LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY VỤ ĐÔNG
    2.1.1. Một số quan điểm và khái niệm
    2.1.1.1. Các quan điểm về phát triển
    Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh
    một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
    Theo Ngân hàng thế giới (1991): Phát triển trước hết là sự tăng trưởng về
    kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt
    là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người.
    Theo tác giả Raaman (1995): “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục
    làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành
    quả tăng trưởng trong xã hội”.
    Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển, nhưng các ý kiến đều
    cho rằng phát triển là sự tăng thêm về qui mô số lượng cũng như sự thay đổi cấu
    trúc theo chiều hướng nâng cao chất lượng của sản phẩm để đạt đến đích cuối
    cùng đó là tăng hiệu quả.
    Phát triển nông nghiệp bền vững cũng được định hướng làm cơ sở nghiên
    cứu. Phát triển nông nghiệp bền vững cũng có nhiều cách hiểu khác nhau.
    Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) năm
    1992 quan niệm rằng: “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn
    sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng
    tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau. Sự phát triển như vậy của nền
    nông nghiệp sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài
    nguyên, phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp
    nhận về phương diện xã hội” (dẫn theo Phạm Vân Đình và cs., 2004).
    Bên cạnh đó, Richard (1990) cho rằng nông nghiệp bền vững là một nền
    nông nghiệp trong đó các hoạt động của các tổ chức kinh tế từ việc lập kế hoạch,
    thực hiện và quản lý các quá trình sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đều hướng
    đến bảo vệ, phát huy lợi ích của con người và xã hội trên cơ sở duy trì và phát
    triển nguồn lực, tối thiểu hóa lãng phí để sản xuất một cách hiệu quả các sản
    phẩm nông nghiệp và hạn chế tác hại môi trường, trong khi duy trì và không
    ngừng nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp. 6
    Theo Uỷ ban kỹ thuật của FAO (1992), nền nông nghiệp bền vững bao
    gồm việc quản lý có hiệu quả nguồn lực để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của
    con người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo
    tồn tài nguyên thiên nhiên.
    Phát triển bền vững là một loại phát triển lành mạnh vừa đáp ứng được
    nhu cầu hiện tại, lại vừa không xâm hại đến lợi ích tương lai (Peter, 2008).
    Như vậy, trên quan điểm phát triển, sự phát triển nông nghiệp bền vững
    vừa đảm bảo thoả mãn nhu cầu hiện tại ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp
    vừa không giảm khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhân loại trong tương lai.
    Mặt khác, phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất cao
    hơn, hiệu quả kinh tế và coi trọng các vấn đề xã hội đồng thời vừa bảo vệ và giữ
    gìn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo sự cân bằng có lợi về môi trường.
    2.1.1.2. Phát triển sản xuất
    Sản xuất là hoạt động có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải, vật
    chất cho xã hội bằng cách sử dụng những tư liệu lao động để tác động vào đối
    tượng lao động. Hay sản xuất chính là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố
    đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc
    dịch vụ (đầu ra).
    Phát triển sản xuất là quá trình vận động của đối tượng sản xuất tiến lên từ
    thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, nó
    cũng bao hàm việc phát triển về tất cả quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm
    mong muốn (Đào Thế Tuấn, 1984).
    Phát triển sản xuất được nhìn nhận dưới 2 góc độ: Thứ nhất, đây là quá
    trình tăng quy mô về số lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; thứ hai, là quá trình
    nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Cả hai quá trình này đều nhằm
    mục đích phục vụ cho đời sống của con người (Đào Thế Tuấn, 1984).
    Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của
    mỗi quốc gia trên thế giới. Phát triển sản xuất càng có vai trò quan trọng hơn nữa
    khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ càng ngày được nâng cao, đặc biệt
    hiện nay với xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm trong khi các yếu
    tố đầu vào luôn khan hiếm (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam, 2004).
    Vậy phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con
    người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô về 7
    số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời
    sống ngày càng cao của con người.
    2.1.1.3. Khái niệm vụ đông
    Vụ đông là vụ chủ yếu trồng các cây cạn và ngắn ngày có đặc tính sinh lý,
    sinh hóa khác nhau, đa dạng và phong phú với nhiều cây trồng trên các loại đất
    khác nhau, cho ra các sản phẩm có hàm lượng dinh dưỡng, hàm lượng nước cao
    nên rất khó bảo quản. Hầu hết các loại cây trồng này có thời vụ tương đối nghiêm
    ngặt và rất dễ bị sâu bệnh hại (Phạm Vân Đình và cs., 2004).
    Trước đây quan niệm cho rằng vụ đông là vụ trồng các loại cây trồng ưa
    lạnh, nên chủ yếu cây vụ đông được trồng sau 20/10 đến tháng 12, song những
    năm gần đây, quan niệm cây vụ đông còn mở rộng sang khái niệm vụ đông ưa
    ấm với các loại cây trồng có khả năng chịu nhiệt và được gieo trồng từ 25 tháng
    8 đến trước mùng 5 tháng 10.
    2.1.1.4. Phát triển sản xuất cây vụ đông
    Từ khái niệm về phát triển, phát triển sản xuất, vụ đông có thể hiểu: Phát
    triển sản xuất cây vụ đông là sự tăng tiến về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về
    cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế - xã hội. Phát
    triển vụ đông bao hàm cả sự biến đổi về số lượng và chất lượng. Sự thay đổi về
    lượng đó là sự tăng lên về quy mô diện tích, cơ cấu cây trồng vụ. Sự thay đổi về
    chất bao gồm sự phát triển về hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất và
    việc sử dụng đầu vào trong sản xuất, sự chuyển dịch sự tăng lên về năng suất,
    chất lượng sản phẩm và tăng thu nhập/đơn vị diện tích với từng loại cây trồng
    trong vụ đông.
    2.1.2. Vai trò của phát triển sản xuất cây vụ đông
    Phát triển sản xuất cây vụ đông có vai trò rất quan trọng trong việc ổn
    định lương thực, thực phẩm cho cuộc sống của con người, cung cấp thức ăn cho
    chăn nuôi gia súc, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế
    biến. Cụ thể, vai trò của phát triển sản xuất cây vụ đông được thể hiện trên các
    khía cạnh sau.
    Thứ nhất, phát triển sản xuất cây vụ đông giúp khai thác hiệu quả hơn các
    nguồn lực, đặc biệt nguồn lực đất đai và lao động. Sở dĩ như vậy là do sản xuất
    cây vụ đông góp phần tận dụng đất đai sau 2 vụ canh tác chính là vụ xuân và vụ
    mùa. Tuy nhiên, thời tiết ở miền Bắc có mùa đông lạnh đã tạo điều kiện phát 8
    triển sản xuất cây vụ đông. Đồng thời, cơ cấu mùa vụ được điều chỉnh và các
    giống cây ngắn ngày được đưa vào sử dụng nhằm đảm bảo cho sự phù hợp của
    sản xuất cây vụ đông (FAO, 2010). Do đó, sản xuất cây vụ đông góp phần tăng
    hệ số sử dụng đất trong năm, tận dụng tối đa diện tích đất sản xuất nông nghiệp
    sử dụng trong sản xuất. Bên cạnh đó, sản xuất cây vụ đông góp phần tạo việc làm
    cho lao động nông nghiệp, đặc biệt các lao động không đủ điều kiện làm thuê,
    làm việc phi nông nghiệp.
    Thứ hai, phát triển sản xuất cây vụ đông góp phần cải tạo, bồi dưỡng đất.
    Trồng cây vụ đông tạo điều kiện cho việc luân canh cây trồng trên đất, thay đổi
    loại cây trồng giúp sử dụng hợp lý nguồn nước, chất dinh dưỡng, tạo ra môi trường
    bất lợi cho sự tồn tại, lây lan của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác. Bên cạnh đó,
    nếu chỉ tập trung trồng một loại cây trồng trên một loại đất, dễ dẫn đến tình trạng
    đất bạc màu, thiếu hụt một vài chất dinh dưỡng nhất định (Đinh Văn Đãn, 2002).
    Thứ ba, phát triển sản xuất cây vụ đông cung cấp lương thực cho con
    người và thức ăn cho chăn nuôi (VanDeWalle, 2009). Cũng như các loại cây
    trồng khác, cây trồng vụ đông góp phần cung cấp lương thực và rau màu đa
    dạng, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người. Ngoài những cây vụ đông đã
    được trồng lâu năm như khoai tây, xu hào, hành tỏi là những loại cây trồng ưa
    lạnh thì ngày càng có nhiều loại cây trồng ưa ấm đã được đưa vào trồng trong
    vụ đông như dưa bí, ngô, đậu tương, dưa chuột, đậu tương nhằm đáp ứng nhu
    cầu tiêu dùng ngày càng đa đạng của con người. Ngoài ra, các phụ phẩm từ sản
    xuất cây vụ đông là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt một số cây
    trồng vụ đông như ngô, đỗ tương còn là nguồn nguyên liệu chính cung cấp cho
    ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện nay.
    Thứ tư, tạo ra những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có tính hàng hóa và có
    khả năng cạnh tranh (OECD, 2010). Cây vụ đông rất đa dạng về chủng loại, dễ
    chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt và có giá trị kinh tế cao, điển hình như các loại
    cà rốt, cà chua, khoai tây, súp lơ, dưa chuột, ớt, cây gia vị Đặc biệt, đối với
    những khu vực hình thành vùng sản xuất lớn, hướng tới những cây trồng hàng
    hóa, có khả năng xuất khẩu sẽ góp phần nâng cao giá trị cây vụ đông. Do đó,
    sản xuất cây vụ đông tuy cần nhiều công chăm sóc hơn nhưng khối lượng sản
    phẩm thu được lớn, giá trị cao góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế (Greg, 2012).
    Thứ năm, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của nông dân. Từ 9
    việc sản xuất 2 vụ lúa/năm, các hộ sản xuất cây vụ đông đã tăng vụ lên thành 3
    vụ/năm, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực đất đai, lao động. Thời gian gieo
    trồng ngắn, tuy nhiên cây vụ đông tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, đặc biệt với
    các loại cây có giá trị kinh tế cao đã góp phần nâng cao thu nhập của người sản
    xuất, từ đó cải thiện đời sống của hộ gia đình (Đinh Văn Đãn, 2002).
    Thứ sáu, giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cơ cấu
    ngành nông nghiệp một cách hiệu quả. Trong nội bộ ngành trồng trọt, phát triển
    vụ đông giúp chuyển dịch cơ cấu chủ yếu giữa cây lương thực với cây công
    nghiệp ngắn ngày, cây rau, củ, quả. Lương thực là bộ phận cấu thành chủ yếu
    trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người. Lương thực đã và sẽ còn giữ vai
    trò chủ yếu, lâu dài trong nguồn thực phẩm mà không thể thay thế được (Astro-
    Venture, 2005). Tuy nhiên, theo xu hướng tiêu dùng trong tương lai, cơ cấu bữa
    ăn sẽ dần thay đổi theo hướng giảm bớt lương thực, tăng cường rau, hoa quả có
    tác dụng cung cấp đường, a xit, muối khoáng, sinh tố, chất kích thích khẩu vị và
    các chất bổ khác có lợi cho sức khỏe con người. Những loại rau, củ, quả này có thể
    sử dụng ở dạng tươi hoặc làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm để
    sản xuất đồ hộp, rượu, nước ngọt, bánh mứt, kẹo với nhiều chủng loại phong phú.
    Những ngành công nghiệp này lại là những ngành thu hút nhiều lao động, do đó
    phát triển những ngành này sẽ tạo thêm việc làm cho người lao động.
    2.1.3. Đặc điểm và phân loại sản xuất cây vụ đông
    2.1.3.1. Đặc điểm sản xuất cây vụ đông
    Do đặc điểm thời tiết khí hậu nên ở nước ta chỉ có các tỉnh phía Bắc từ
    Mục Nam Quan đến Bắc đèo Hải Vân có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất
    cây vụ đông ngoài hai vụ lúa. Qua tìm hiểu các tài liệu, nghiên cứu liên quan đến
    vụ đông của các tác giả Đường Hồng Dật (2002) và Đinh Văn Đãn (2002), tác
    giả rút ra một số đặc điểm của sản xuất cây vụ đông như sau.
    Thứ nhất, hầu hết những loại cây trồng này có yêu cầu về thời vụ tương
    đối nghiêm ngặt và rất dễ bị các loại sâu bệnh hại. Do đó khâu lựa chọn giống
    cây trồng cần đảm bảo cho nâng cao năng suất cũng như chất lượng của sản
    phẩm khi thu hoạch, đồng thời các khâu sản xuất phải làm đúng, kịp thời để
    không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ đông,
    không ảnh hưởng đến vụ sản xuất kế tiếp.
    Thứ hai, cây trồng vụ đông phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên việc lựa 10
    chọn giống cây trồng cho phù hợp với chất đất của từng vùng và thích nghi với
    sự biến động về điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu là hết sức cần thiết.
    Thứ ba, vụ đông là vụ trồng nhiều loại cây khác nhau. Do vậy các hộ
    nông dân cần bố trí cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với chi phí đầu tư của mình
    nhằm tạo ra năng suất cao đáp ứng tốt cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình đồng
    thời đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của thị trường. Có như vậy hiệu quả sản xuất
    mới được tăng lên, tỷ trọng hàng hóa trong cơ cấu sản phẩm cũng tăng lên thúc
    đẩy việc hoàn thành chiến lược phát triển ngành nông nghiệp thành ngành sản
    xuất hàng hóa.
    Thứ tư, sản xuất cây vụ đông được tiến hành trong điều kiện khí hậu lạnh,
    khô và diễn biến phức tạp. Khí hậu lạnh và khô là điều kiện thuận lợi cho sản
    xuất cây vụ đông do hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh hại, nhưng sự diễn
    biến phức tạp của thời tiết lại gây ra những rủi ro lớn cho sản xuất cây vụ đông.
    Vì vậy, từng vùng, từng địa phương cần nắm rõ được quy luật thay đổi của khí
    hậu để có những giải pháp khắc phục hiệu quả, tránh được những thiệt hại khôn
    lường có thể xảy ra.
    Thứ năm, sản phẩm cây vụ đông có hàm lượng dinh dưỡng, hàm lượng
    nước cao nên rất khó bảo quản. Cũng do đặc điểm trên mà sản phẩm cây vụ
    đông sản xuất ra phải tiến hành tiêu thụ ngay nên đã làm cho tỷ suất hàng hóa
    tăng cao. Vì vậy cần có những biện pháp thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu
    thụ kịp thời để vừa đảm bảo chất lượng sản phẩm, vừa tránh được rủi ro thị
    trường.
    Thứ sáu, cây trồng vụ đông đòi hỏi đầu tư lớn về lao động, chi phí vật
    chất. Do vậy, để cây vụ đông đạt năng suất, chất lượng cao các hộ nông dân phải
    bố trí hợp lý tiền vốn, lao động cho vụ sản xuất này.
    2.1.3.2. Đặc điểm phát triển sản xuất cây vụ đông
    Từ khái niệm phát triển sản xuất cây vụ đông, đặc điểm sản xuất cây vụ
    đông, có thể rút ra một số đặc điểm phát triển sản xuất cây vụ đông như sau:
    Thứ nhất, phát triển sản xuất cây vụ đông bao gồm phát triển theo chiều
    rộng và chiều sâu. Cụ thể, đó là sự tăng lên về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ
    về cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế - xã hội.
    Thứ hai, phát triển sản xuất cây vụ đông là đa dạng về chủng loại và cơ
    cấu cây trồng. 11
    Thứ ba, phát triển sản xuất cây vụ đông bao gồm cả phát triển cây vụ đông
    ưa ấm và cây vụ đông ưa lạnh nên không bị giới hạn bởi thời vụ gieo trồng.
    Trước đây, cây vụ đông được hiểu là những cây màu trồng vào vụ đông vì vậy
    phát triển sản xuất cây vụ đông được hiểu là phát triển sản xuất các cây trồng vào
    vụ đông, tương ứng với thời tiết mùa đông ở miền Bắc. Hiện nay, với sự xuất
    hiện khái niệm cây vụ đông ưa ấm và cây vụ đông ưa lạnh nên phát triển sản xuất
    cây vụ đông được mở rộng về thời vụ, chủng loại và cơ cấu cây trồng (Đường
    Hồng Dật, 2002; Đinh Văn Đãn, 2002; Phạm Vân Đình và cs., 2004).
    2.1.3.3. Phân loại cây vụ đông
    Theo tác giả Bùi Huy Đáp (1972) thì cây vụ đông được phân thành các
    nhóm sau dựa trên đặc điểm đất trồng và chủng loại cây.
    a. Phân loại cây vụ đông theo loại đất trồng
    - Cây vụ đông trồng trên đất lúa
    Cây vụ đông trên đất lúa là các cây được gieo trồng hàng năm trên đất lúa
    sau khi kết thúc lúa mùa và được thu hoạch vào mùa đông.
    - Cây vụ đông trên đất màu
    Cây vụ đông trên đất màu là các cây được trồng ở vùng đất khô chuyên
    trồng các loại cây hoa màu như khoai, lạc, đậu trong mùa thu và thu hoạch vào
    mùa đông.
    - Cây vụ đông trên đất bãi
    Cây vụ đông trên đất bãi là các cây được trồng ở vùng đất được hình
    thành ven sông, ven cù lao trên sông do phù sa bồi tụ, các loại cây này cũng được
    gieo trồng trong khoảng thời gian tương tự như trên đất lúa và đất chuyên màu.
    b. Phân loại cây vụ đông theo chủng loại cây
    - Cây phân xanh và thức ăn gia súc
    Trong các loại cây trồng vụ đông cần phát triển, đáng chú ý là các loại cây
    phân xanh và thức ăn gia súc. Diện tích các cây phân xanh hiện nay chiếm một tỷ
    lệ rất nhỏ trong tổng diện tích trồng trọt vậy nên việc bồi dưỡng và cải tạo đất
    gặp nhiều khó khăn, yêu cầu về phân bón và hệ thống trồng trọt thâm canh chưa
    được thỏa mãn. Với cơ cấu các vụ sản xuất và chế độ luân canh cây vụ đông, có
    thể đặt một số cây phân xanh và thức ăn gia súc vào lịch thời vụ một cách ổn
    định thành những vụ sản xuất mới giữa vụ mùa và vụ xuân ở đất ruộng cấy lúa 12
    hai vụ hay để thay thế cho những tháng bỏ hóa trên những loại đất mới cấy có
    một vụ lúa mùa.
    - Đỗ đậu vụ đông
    Phát triển mạnh đỗ đậu vụ đông sẽ đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và kỹ
    thuật, có tác động tích cực, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng và cải tạo đất. Sản xuất
    đỗ đậu vụ đông tạo thêm được một khối lượng thực phẩm và thức ăn gia súc có
    giá trị dinh dưỡng cao. Rễ cây họ đậu có khả năng tổng hợp đạm tự do của khí
    trời thành đạm hữu cơ, trồng đỗ đậu vụ đông trên các chân ruộng cạn có tác dụng
    như những loại cây phân xanh.
    - Rau vụ đông
    Rau vụ đông là vụ rau quan trọng nhất trong năm, sản xuất ra nhiều loại
    sản phẩm có chất lượng tốt, giá trị kinh tế cao, tăng thêm thu nhập cho người
    nông dân.
    - Cây lương thực vụ đông
    Trong vụ đông có thể trồng một số cây lương thực ăn hạt hay ăn củ. Các
    loại cây ăn củ khá phổ biến như khoai lang, khoai tây, lạc. Còn cây ăn hạt là ngô
    thu đông và một số giống mì và mạch hoa đã được trồng lâu đời ở miền núi.
    c. Phân loại cây vụ đông theo thời vụ trồng
    Trước đây, cây trồng vụ đông được mặc định là các loại cây trồng ưa lạnh
    và thời vụ gieo trồng thường diễn ra sau 20/10, tuy nhiên trong những năm gần
    đây cùng với sự phát triển của kỹ thuật lại tạo giống và do nhu cầu sử dụng của
    người dân đã tạo ra loại cây vụ đông ưa ấm, do đó qua nghiên cứu chúng tôi đưa
    ra hình thức phân loại là phân loại cây vụ đông theo thời vụ trồng.
    - Cây vụ đông ưa lạnh: Là các loại cây trồng được gieo trồng vào thời
    điểm từ sau 20/10 hàng năm, điển hình một số loại cây vụ đông ưa lạnh như:
    khoai tây, xu hào, bắp cải, hành tỏi, cây gia vị: mùi, thì là
    - Cây vụ đông ưa ấm: Là các loại cây trồng được gieo trồng vào thời điểm
    từ 25/8 đến trước ngày 5/10 hàng năm, điển hình một số loại cây vụ đông ưa ấm
    như ớt, ngô, dưa bí,
    2.1.4. Nội dung phát triển sản xuất cây vụ đông
    Căn cứ vào lý luận về phát triển kinh tế và lý luận về vụ đông, có thể hiểu
    phát triển sản xuất cây vụ đông là sự tăng lên về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ 13
    về cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm. Phát triển cây vụ đông theo số
    lượng nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ cho tiêu dùng tại chỗ, cho các cơ sở
    chế biến hay nhu cầu xuất khẩu sản phẩm đi nước ngoài. Phát triển cây vụ đông
    bao gồm phát triển đan xen cả về lượng và chất, thể hiện ở các nội dung sau:
    2.1.4.1. Mở rộng quy mô sản xuất cây vụ đông
    Mở rộng qui mô sản xuất cây vụ đông được hiểu là sự gia tăng đơn vị sản
    xuất cây vụ đông, sự gia tăng diện tích và chủng loại cây vụ đông nhằm tăng sản
    lượng cây vụ đông.
    Việc mở rộng diện tích đòi hỏi cần có các nghiên cứu, điều tra, thử
    nghiệm sản xuất cây trồng trên các vùng đất mới ngoài đất màu, đất bãi, đất hai
    vụ lúa truyền thống. Nếu đạt hiệu quả cao thì tiến hành sản xuất đại trà, mở rộng
    diện tích sản xuất, tránh để đất hoang hóa, lãng phí nguồn tài nguyên đất nước.
    Tuy nhiên, việc nghiên cứu mở rộng diện tích gieo trồng vụ đông cần căn
    cứ vào tính chất mùa vụ cũng như ảnh hưởng từ các hiện tượng thời tiết bất
    thường trong cùng thời gian này của những năm trước cũng như dự báo được
    điều kiện thời tiết trong những năm tiếp theo.
    Việc mở rộng qui mô diện tích cây vụ đông còn phụ thuộc vào quĩ đất
    nông nghiệp sẵn có và khả năng chuyển đổi các loại đất sang đất trồng cây vụ
    đông. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay, quĩ đất nông nghiệp có xu
    thể giảm xuống. Do vậy việc mở rộng qui mô sẽ được cân nhắc đồng thời với các
    giải pháp phát triển khác.
    2.1.4.2 Phát triển hình thức tổ chức sản xuất cây vụ đông
    Việc phát triển sản xuất cây vụ đông không chỉ được xem xét trên khía
    cạnh gia tăng về diện tích, cơ cấu cây trồng mà còn được xem xét là sự phát triển
    của các hình thức tổ chức sản xuất bao gồm: hộ, trang trại, hợp tác xã, doanh
    nghiệp . trong đó chú trọng phát triển theo hình thức hợp tác xã, trang trại có quy
    mô lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Phát triển hình thức tổ chức sản
    xuất cây vụ đông ngoài việc xem xét sự phát triển về mặt số lượng các hình thức
    tổ chức sản xuất còn phải xem xét mức độ hợp tác, liên kết giữa các hình thức tổ
    chức sản xuất nhằm tận dụng lợi thế về quy mô và khắc phục các hạn chế trong
    việc sản xuất đơn lẻ. Quyết định 80/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành
    ngày 24 tháng 6 năm 2002 về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp
    đồng cũng nêu rõ chủ trương Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc 14
    các thành phần kinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá (bao gồm nông
    sản, lâm sản, thuỷ sản) với người sản xuất (hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại
    diện hộ nông dân) nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hoá
    để phát triển sản xuất ổn định và bền vững (Thủ tướng Chính phủ, 2002).
    2.1.4.3. Xác định cơ cấu cây trồng trong vụ đông
    Ngoài nội dung mở rộng diện tích thì việc phát triển vụ đông còn được
    xem xét trên khía cạnh phát triển hệ thống cây trồng với việc nghiên cứu, thử
    nghiệm và đưa các loại giống mới, cây trồng mới vào sản xuất, nhằm bố trí hệ
    thống cây trồng vụ đông phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Việc sử
    giống mới không chỉ đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường mà
    còn có vai trò rất lớn trong khâu canh tác, tạo ra nhóm cây trồng có tỷ suất hàng
    hóa lớn, góp phần nâng cao thu nhập cho người sản xuất (Hữu Thông, 2012).
    Như vậy, để hình thành tập đoàn giống mới đưa vào sản xuất thì việc liên
    kết với các cơ sở nghiên cứu cây giống có chất lượng, uy tín cao để được hỗ trợ
    về giống, vốn và sự hướng dẫn của các nhà khoa học trong sản xuất nhằm tránh
    được các rủi ro trong nông nghiệp như sâu bệnh hại, phòng trừ thiên tai, biến đổi
    khí hậu là rất cần thiết. Bên cạnh đó, cần có những chính sách hỗ trợ cho các
    công trình nghiên cứu cây trồng nông nghiệp để thúc đẩy việc nghiên cứu tạo ra
    các giống mới cho năng suất cao.
    2.1.4.4. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất cây vụ đông
    Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, khoa học kĩ thuật đóng vai trò
    quan trọng trong việc tăng năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi. Kỹ thuật
    sản xuất bao gồm các khía cạnh như việc áp dụng các loại giống mới có năng
    suất và chất lượng cao; áp dụng các kỹ thuật canh tác hiệu quả, ứng dụng các
    công nghệ sản xuất tiên tiến như VGAP, sản phẩm hữu cơ, IPM Đồng thời ứng
    dụng các công nghệ mới, máy móc tiên tiến trong thu hoạch, bảo quản sản phẩm
    nhằm giúp giảm sức lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
    (Vũ Triệu Mân, 1991).
    Trong thời gian qua, việc áp dụng các giải pháp khoa học-công nghệ đã
    thu được những thành tựu đáng kể trong chọn tạo các loại giống cây trồng cho
    năng suất cao, ổn định, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, chống chịu được với điều
    kiện khó khăn của thời tiết. Đối với vụ đông, các tiến bộ khoa học - kĩ thuật
    không chỉ được áp dụng rộng rãi trong sản xuất, mà cần hướng tới phát triển kĩ
    thuật bảo quản, chế biến để nâng cao giá trị hàng hóa của cây vụ đông. 15
    2.1.4.5. Đầu tư thâm canh và sử dụng đầu vào phát triển sản xuất cây vụ đông
    Trong nền kinh tế thị trường, việc phát triển sản xuất cây vụ đông cần phát
    triển sản xuất theo hướng hàng hoá, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, có giá trị
    cao, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và
    xuất khẩu. Để đáp ứng được mục tiêu trên thì việc đầu tư thâm canh trong điều
    kiện diện tích đất đai có hạn, điều kiện thời tiết bất lợi là yêu cầu quan trọng
    trong phát triển vụ đông (Đinh Văn Đãn, 2002).
    Hiện nay, để nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh thị trường,
    đòi hỏi đầu tư trong vụ đông cần phải tính toán đến việc sử dụng đầu vào hợp lý
    vừa mang lại năng suất cây trồng cao vừa tiết kiệm được chi phí đầu vào trong
    điều kiện giá các loại đầu vào ngày càng tăng.
    2.1.4.6. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm
    Thị trường là tập hợp sự thoả thuận mà thông qua đó người mua và người
    bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Trong phát triển sản xuất
    cây vụ đông, thị trường là một mắt xích quan trọng, thông qua đó việc tiêu thụ
    sản phẩm được thực hiện qua các “kênh thị trường”. Kênh thị trường phản ánh
    mối quan hệ giữa người sản xuất, người thu mua và người tiêu dùng. Trong đó,
    người sản xuất là nông dân, họ là người cung cấp ra sản phẩm trồng trọt; người
    thu mua (trung gian tiêu thụ) bao gồm người thu gom, người bán buôn, người chế
    biến, người bán lẻ đóng vai trò là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng
    cuối cùng (Hoàng Văn Quỳnh và Nguyễn Thị Hoài Lê, 2015).
    Trong điều kiện sản xuất hàng hóa và nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn
    đề tiêu thụ và liên kết tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra rất quan trọng (Simmon,
    2002; Nguyễn Tất Thắng, 2012), việc tổ chức liên kết tiêu thụ sản phẩm vụ đông
    cho các hộ sản xuất phải đặc biệt được quan tâm. Trước tiên là phải cung cấp
    thông tin về nhu cầu tiêu dùng, giá thành của các loại sản phẩm để giảm thiểu
    được những rủi ro khi tham gia thị trường. Qua đó, hình thành các kênh phân
    phối và liên kết tiêu thụ sản phẩm hợp lý, hiệu quả nhất cho nông dân, các
    thương lái, các công ty thu mua tránh sự cạnh tranh thiếu lành mạnh (Nguyễn Thị
    Bích Hồng, 2008).
    2.1.4.7. Xác định và đánh giá kết quả và hiệu quả phát triển sản xuất cây
    vụ đông
    * Tăng năng suất, sản lượng sản phẩm
    Năng suất cây trồng vụ đông, sản lượng cây trồng vụ đông là chỉ tiêu quan 16
    trọng đánh giá kết quả sản xuất cây vụ đông. Trong sản xuất cây vụ đông thì sản
    phẩm sản xuất ra vừa được người sản xuất giữ lại để tiêu dùng vừa được bán trên
    thị trường. Sản phẩm tiêu dùng bao gồm các sản phẩm giữ lại đáp ứng nhu cầu
    lương thực, thực phẩm của gia đình nông dân, làm giống để cho vụ sản xuất tiếp
    theo. Sản phẩm bán trên thị trường bao gồm sản phẩm bán cho người tiêu dùng
    và các ngành công nghiệp trong nước và các sản phẩm xuất khẩu. Vì vậy, phát
    triển sản xuất cây vụ đông là tăng năng suất nông nghiệp một cách bền vững và
    ổn định để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm
    nông nghiệp (Phạm Vân Đình và cs., 2004).
    * Tăng giá trị sản phẩm
    Bên cạnh việc phát triển số lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường thì việc
    phát triển chất lượng sản phẩm vô cùng quan trọng. Việc phát triển sản xuất cây
    vụ đông trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi sản phẩm tạo ra phải đảm bảo an toàn,
    sạch theo những tiêu chuẩn, quy định trong nước và quốc tế (Vietgap, Gold
    balgap .) để đáp ứng nhu cầu càng cao của người tiêu dùng. Các nghiên cứu về
    nhu cầu tiêu dùng rau an toàn, rau hữu cơ đã chỉ ra rằng, khi chất lượng cuộc
    sống ngày nâng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm sạch, an toàn, có lợi cho
    sức khỏe con người là rất lớn (Nguyễn Văn Thuận, 2011).
    * Tăng hiệu quả kinh tế
    Hiệu quả kinh tế là thước đo tổng hợp, phản ánh kết quả sản xuất kinh
    doanh của mỗi đơn vị sản xuất. Vì vậy, tăng hiệu quả kinh tế vụ đông là hợp
    phần rất quan trọng trong nội dung phát triển sản xuất cây vụ đông ở địa bàn
    nghiên cứu. Hiệu quả kinh tế cây vụ đông được tính theo các chỉ tiêu giá trị sản
    xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp, lợi nhuận ròng xét trên chi phí bỏ ra,
    công lao động tiêu hao và diện tích canh tác.
    * Tăng hiệu quả xã hội
    Khu vực nông thôn có diện tích rộng, dân số đông, số người trong độ tuổi
    lao động chiếm phần lớn nhưng hiện nay còn thiếu việc làm, hoặc có việc làm
    nhưng chưa sử dụng hết thời gian lao động. Theo thống kê, tỉ lệ thiếu việc làm ở
    khu vực nông thôn lên đến 9,3% (Tổng cục Thống kê, 2013). Việc không đáp
    ứng được nhu cầu việc làm đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng như lãng phí
    một lực lượng lớn người lao động của nước ta, đời sống của người lao động sẽ
    gặp nhiều khó khăn hơn gây ra tình trạng tăng tỉ lệ đói nghèo, đây cũng là một
    trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội. 17
    Để giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn đòi hỏi chúng
    ta phải có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của nông thôn và vấn đề việc làm cho
    lao động nông thôn hiện nay. Do đó, việc phát triển vụ đông giúp tạo việc làm tại
    chỗ cho lao động nông thôn. Mặt khác, phát triển vụ đông giúp đẩy mạnh phát
    triển công nghiệp chế biến tạo việc làm cho lao động khu vực công nghiệp, góp
    phần vào việc hạn chế các vấn đề xã hội do tình trạng thiếu việc làm gây ra.
    * Tăng hiệu quả môi trường
    Phát triển vụ đông thông qua các biện pháp như thủy lợi, kỹ thuật làm đất,
    phân bón, chế độ canh tác, . để cải tạo đất. Ngoài ra, việc luân canh cây trồng
    hợp lý sẽ hạn chế cỏ dại, tăng độ tơi xốp của đất, đảm bảo cho hệ rễ phát triển
    (Vũ Triệu Mân, 1991). Mặt khác, việc canh tác vụ đông giúp cải thiện chất hữu
    cơ trong đất bằng cách bón phân hữu cơ hoặc phân rơm đã được ủ cho hoai mục.
    Sử dụng các loài nấm và vi khuẩn phân hủy rơm trả lại dinh dưỡng cho đất.
    Cây trồng vụ đông phần lớn là cây họ đậu, loại cây trồng này có khả năng
    cố định đạm trong đất là nhờ vi khuẩn Ri-zô-bium (vi khuẩn cố định đạm) có
    trong đất không bị ngập và thoáng khí. Vi khuẩn này giúp tạo nốt sần trưởng
    thành (có màu nâu đỏ lúc cắt ngang), nó sẽ cung cấp chất đạm lại cho cây sử
    dụng, vì vậy phát triển sản xuất cây vụ đông góp phần bảo vệ môi trường đất,
    tăng hiệu quả môi trường sinh thái.
    2.1.5. Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây vụ đông
    2.1.5.1. Điều kiện tự nhiên
    a. Điều kiện thời tiết, khí hậu
    Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên có điều kiện thuận lợi để
    phát triển sản xuất đa dạng các giống cây trồng. Vụ đông được sản xuất chủ yếu
    ở miền Bắc với đặc điểm khí hậu có mùa đông thường kéo dài từ tháng 10 năm
    trước tới tháng 4 năm sau.
    Trong những năm gần đây, diễn biến thời tiết có nhiều yếu tố bất thường,
    rét đến muộn hơn, có những năm hầu như không rét, nhiệt độ cao, thời tiết nắng
    nóng nhưng cũng có năm khô hạn, rét đậm kéo dài, xuất hiện sương muối khiến
    cây trồng dễ chết, lá quăn, rụng hoa, thối quả làm ảnh hưởng tới sản lượng và
    chất lượng cây trồng nói chung, cây trồng vụ đông nói riêng.
    Theo dự báo của trung tâm khí tượng thủy văn, nhiệt độ tại miền bắc Việt
    Nam sẽ tăng từ 0,8 o C đến 3,4 o C vào năm 2050 và tiếp tục tăng đến cuối thế kỷ này
    (Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia, 2015). Bên cạnh đó, diễn biến bất 18
    thường của các hình thái thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng (lũ lụt, hạn hán,
    mưa bão) là những yếu tố có ảnh hưởng bất lợi đến phát triển sản xuất cây vụ
    đông, do đó đòi hỏi hệ thống cây trồng vụ đông phải có sự thích ứng phù hợp, đặc
    biệt là việc phát triển hệ thống cây trồng vụ đông ưa ấm là vô cùng quan trọng.
    b. Điều kiện đất đai, thổ nhưỡng
    Đối với sản xuất cây vụ đông, đất là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp
    đến năng suất cũng như chất lượng cây trồng vụ đông. Mỗi chủng loại cây thích
    hợp với thành phần cơ, lý, hóa học khác nhau. Nắm bắt được từng loại đất, hộ
    nông dân sẽ sử dụng đầy đủ và hợp lý, khai thác triệt để tiềm năng của đất đai.
    Theo Huỳnh Thị Kim Vy (2014), có bốn yếu tố thổ nhưỡng ảnh hưởng
    mạnh đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng: sự thoát nước, độ nén, độ
    pH, và kết cấu đất. Cụ thể, nếu sự thoát nước tốt, đất dễ đào xới, cây sẽ sinh
    trưởng và phát triển thuận lợi; ngược lại, nếu nước không thoát trữ lại sẽ làm cho
    rễ có thể bị ngập úng trong lượng nước thừa, lâu ngày rễ sẽ bị thối gây chết cây,
    hay đất rắn có thể ngăn cản sự phát triển của rễ làm cho cây yếu và dễ bị đổ ngã
    và bật gốc. Tương tự như vậy, mỗi cây trồng phù hợp với một khoảng pH nhất
    định, tại mức pH đó, cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao. Bảng
    2.1 thể hiện khoảng pH phù hợp cho từng loại cây trồng.
    Bảng 2.1. Thống kê khoảng pH phù hợp cho từng loại cây trồng
    Cây trồng pH thích hợp Cây trồng pH thích hợp
    Bắp (Ngô) 5,7-7,5 Lúa 5,5-6,5
    Họ Dưa bí 5,5-6,8 Khoai tây 5,0-6,0
    Bông cải xanh 6,0-6,5 Khoai lang 5,5-6,8
    Cà chua 6,0-7,0 Súp lơ 5,5-7,0
    Cà rốt 5,5-7,0 Ớt 6,0-7,5
    Cà tím 6,0-7,0 Đậu đỗ (đỗ tương) 6,0 - 7,0
    Cải bắp 6,5-7,0 Hành tỏi 6,0-7,0
    Củ cải 5,8-6,8 Dưa leo 6,0-7,0
    Cải thảo 6,5-7,0 Rau gia vị 5,5-7,0
    Lạc 5,3-6,6 Xà lách 6,0-7,0
    Dưa hấu 5,5-6,5 Đậu tương 5,5-7,0
    Chuối 6,0 - 6,5 Dưa chuột 6,5 – 7,0
    Hành tây 6,4 - 7.9 Cà chua 6,3 – 6,7

    Nguồn: Huỳnh Thị Kim Vy (2014) 19
    Đối với tiêu chí kết cấu đất, đất nhiều mùn có kết cấu trung bình thường
    cung cấp nhiều dưỡng chất, không khí và nước cho sự phát triển của cây. Đất cát,
    không mịn sẽ hạn chế dưỡng chất nhưng giúp cho nước và không khí lưu thông
    tốt. Đất sét, mịn thì cung cấp nhiều dưỡng chất nhưng hạn chế sự lưu thông của
    nước và không khí.
    2.1.5.2. Chính sách liên quan đến phát triển vụ đông
    Các chủ trương, chính sách về nông nghiệp như đầu tư, khuyến nông, liên
    kết, thị trường của các ngành, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa
    phương có tác động trực tiếp và sâu sắc đến ngành nông nghiệp nói chung, trong
    đó có vụ đông. Việc ban hành chủ trương, chính sách kịp thời, đồng bộ, đáp ứng
    được yêu cầu sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các hộ sản xuất cây vụ đông. Bên cạnh
    đó, chủ trương, chính sách đúng sẽ tạo sự tin tưởng cho người sản xuất cây vụ
    đông yên tâm đầu tư, đem lại kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng
    cao và ổn định và bền vững (Ngọc Ánh, 2013).
    Thời gian gần đây, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách phát triển
    sản xuất nông nghiệp, khuyến khích nông dân tích cực sản xuất, đưa tiến bộ
    KHKT mới vào để tăng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất góp phần thúc đẩy
    nền sản xuất phát triển. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như
    miễn thuế sử dụng đất, miễn thủy lợi phí, chính sách cho vay vốn, chính sách hỗ
    trợ khoa học kĩ thuật . trong phát triển sản xuất cây vụ đông có ảnh hưởng lớn
    đến phát triển nông nghiệp bền vững và là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp
    có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng.
    2.1.5.3. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch sản xuất cây vụ đông
    Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn là một bước quan trọng
    trong quá trình lập và thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn
    (Phạm Đình Phùng, 2014). Là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế
    ngành trồng trọt, quy hoạch sản xuất cây vụ đông có tác động đến trực tiếp đến
    phát triển sản xuất cây vụ đông (tác động từng phần) và gián tiếp đến cơ cấu
    ngành trồng trọt cũng như ngành nông nghiệp ở khu vực nông thôn (tác động
    tổng thể). Việc thực hiện quy hoạch phát triển sản xuất cây vụ đông để đảm bảo
    tính ổn định trong cơ cấu trồng trọt, cung cấp khối lượng sản phẩm có chất
    lượng, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và phù hợp với điều kiện tự nhiên,
    kinh tế - xã hội của mỗi địa phương là hết sức cần thiết. Nguyên tắc lập quy
    hoạch sản xuất cây vụ đông ở hầu hết các địa phương phải đảm bảo theo hướng 20
    thâm canh trên các diện tích đất hai vụ lúa và đất chuyên màu; xây dựng kế
    hoạch sản xuất cây vụ đông phải gắn với các vụ trong năm, tạo công thức luân
    canh cây trồng phù hợp, liên hoàn, hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo cây trồng vụ
    trước phải tạo thế mở rộng và thâm canh cho cây trồng vụ sau. Bên cạnh đó, phát
    triển sản xuất cây vụ đông theo hướng thâm canh, công nghiệp hóa từ sản xuất
    đến thu mua, chế biến ở các địa bàn có điều kiện thuận lợi để phát huy tiềm năng
    lao động, đất đai, khí hậu. Từ đó, mỗi địa phương phải hoàn thiện quy hoạch
    vùng sản xuất cây vụ đông của mình trên cơ sở quy hoạch chung (UBND tỉnh
    Thái Bình, 2012).
    Tuy nhiên, do đặc điểm sản xuất cây vụ đông phải gắn với đất đai nên quy
    hoạch sản xuất vụ đông phải gắn với quy hoạch sử dụng đất đai của từng vùng
    sinh thái nông nghiệp. Hơn nữa, quy hoạch sản xuất cây vụ đông phải phù hợp
    với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như quy hoạch sản xuất nông
    nghiệp của địa phương trong mối quan hệ với lao động, thị trường và các yếu tố
    tập quán khác nhằm đảm bảo phát triển sản xuất cây vụ đông ổn định cả về lượng
    và chất.
    Dựa vào các tính chất đất đai, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và lợi thế của
    địa phương, để quy hoạch vùng sản xuất cây vụ đông nhằm sử dụng đất đai có
    hiệu quả. Định hướng phát triển vụ đông ở những vùng có thế mạnh là một yếu
    tố vô cùng quan trọng nó có ý nghĩa thúc đẩy phát triển sản xuất cây vụ đông cả
    về diện tích, quy mô và chủng loại cây trồng. Mức độ ổn định của quy hoạch
    phát triển sản xuất tác động đến mức độ ổn định của các vùng sản xuất và mức
    độ đầu tư của các hộ gia đình và các doanh nghiệp trong phát triển sản xuất. Mục
    đích của quy hoạch là sắp xếp và bố trí lại cho phù hợp với điều kiện sản xuất và
    tổ chức sản xuất hợp lý.
    Như vậy, nội dung quy hoạch ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát sản xuất
    cây vụ đông. Quy hoạch ở đây được nhìn nhận bao gồm cả quy hoạch tổng thể,
    cũng như quy hoạch cụ thể cho các nội dung phát triển sản xuất (quy hoạch diện
    tích đất canh tác, chủng loại/nhóm cây trồng, cơ sở chế biến, .) cần được xem xét
    một cách tổng thể. Vì vậy, việc quy hoạch, thực hiện quy hoạch sẽ ảnh hưởng
    trực tiếp đến quy mô, đầu tư, tổ chức sản xuất cây vụ đông.
    2.1.5.4 Công tác truyền thông về phát triển sản xuất cây vụ đông
    Về mặt lý thuyết, truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của
    xã hội. Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành động và ứng xử của công chúng (Nguyễn Xuân Phương, 2003).
    Nhờ đến truyền thông mà những vấn đề liên quan đến đối tượng truyền thông
    được xã hội chấp nhận và lan truyền nhanh trong công chúng.
    Đối với phát triển sản xuất cây vụ đông, các hoạt động truyền thông bao
    gồm tuyên truyền về chính sách, văn bản bản pháp luật liên quan đến phát triển
    sản xuất cây vụ đông như quy hoạch, định hướng, hướng dẫn thời vụ, kĩ thuật,
    hướng dẫn thực hiện các văn bản này cho các cấp chính quyền và người dân thực
    hiện thông qua các buổi tập huấn, sách báo, truyền hình nhằm nâng cao nhận
    thức của người dân về vai trò, thời vụ và các khía cạnh kĩ thuật khác trong phát
    triển sản xuất cây vụ đông.
    2.1.5.5. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cây vụ đông và dịch vụ khuyến nông
    Kết quả phát triển sản xuất cây vụ đông chịu ảnh hưởng lớn từ vấn đề đầu
    tư của các tác nhân cho sản xuất, trong đó đặc biệt chú ý là đầu tư về cơ sở hạ
    tầng và dịch vụ công. Việc đầu tư đầy đủ, đáp ứng yêu cầu sẽ mang lại hiệu quả,
    giúp cho cây trồng vụ đông phát triển được ổn định và bền vững.
    * Thủy lợi
    Phát triển thuỷ lợi nhằm phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp,
    giúp đa dạng hóa cây trồng, đặc biệt phát triển thủy lợi có ý nghĩa sống còn để
    giúp giải quyết nguồn nước cho tưới, tiêu cho cây trồng vụ đông trong giai đoạn
    biến động bất lợi của thời tiết.
    * Giao thông nội đồng
    Giao thông nội đồng phát triển giúp cho việc cung ứng vật tư kỹ thuật, hỗ trợ
    việc vận chuyển sản phẩm đến thị trường tiêu thụ, giúp cho các quá trình sản xuất
    diễn ra liên tục và thuận lợi (Nguyễn Quang Dũng, 2014). Các mối liên hệ giữa các
    vùng sản xuất được thực hiện nhờ mạng lưới giao thông nội đồng. Vì thế, những nơi
    gần các tuyến đường trục chính nội đồng, các vị trí thuận lợi về giao thông là nơi tập
    trung sản xuất, trong khi các vùng xa hơn về giao thông, tuy có điều kiện thuận lợi
    về đất đai nhưng cũng hạn chế rất nhiều trong phát triển vụ đông.
    * Dịch vụ khuyến nông
    Khuyến nông có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói chung,
    sản xuất cây vụ đông nói riêng (Nguyễn Văn Long, 2005). Hoạt động khuyến
    nông trong phát triển sản xuất cây vụ đông bao gồm tuyên truyền, vận động hộ

    Xem Thêm: Phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Phát triển sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Thái Bình sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu
Tài liệu mới

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status