THÔNG TIN CHUNG

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Phan Văn Kha
Đơn vị công tác: Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.
Thư điện tử: pvkha@moet.edu.vn; Điện thoại: 04 38222639
Thời gian thực hiện: Từ 12/2008 đến 12/2009

Mục tiêu nghiên cứu

Tổng kết các vấn đề lý luận, đánh giá kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng của hệ thống giáo dục quốc dân trong nước để đề xuất những vấn đề đổi mới quản lý hệ thống giáo dục quốc dân và các vấn đề có liên quan tới hệ thống của Việt Nam (cơ cấu hệ thống, các loại trường trong hệ thống, văn bằng chứng chỉ, quản lý hệ thống).

Nội dung nghiên cứu

- Xây dựng được cơ sở lý luận của việc nghiên cứu về hệ thống giáo dục quốc dân qua việc làm sáng tỏ một hệ thống các khái niệm có liên quan.

- Nghiên cứu tổng kết xu thế, kinh nghiệm về hệ thống và quản lí hệ thống giáo dục của một số quốc gia, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc đổi mới quản lí hệ thống giáo dục quốc dân trong thời gian tới.

- Đánh giá thực trạng các hệ thống giáo dục và dạy nghề ở nước ta: Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông, Giáo dục nghề nghiệp, Giáo dục Đại học, Giáo dục thường xuyên.

- Đề xuất các thay đổi về cơ cấu hệ thống, hệ thống trường lớp, văn bằng chứng chỉ và các đổi thay cần có về quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục theo hai phương án: phương án trước mắt phục vụ cho việc điều chỉnh Luật Giáo dục; phương án lâu dài mang tính nghiên cứu về xu thế phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp hồi cứu tư liệu, Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, Phương pháp chuyên gia, Nghiên cứu so sánh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


1/ Về lí luận

Đề tài đề cập đến một số khái niệm liên quan đến hệ thống giáo dục quốc dân như: Giáo dục suốt đời; Xã hội học tập; Giáo dục người lớn; Giáo dục trước tuổi đến trường; Giáo dục mầm non; Giáo dục phổ thông; Giáo dục nghề nghiệp; Giáo dục bậc ba; Giáo dục cao đẳng; Giáo dục đại học; Giáo dục sau đại học; Giáo dục cơ bản; Giáo dục phổ cập; Giáo dục bắt buộc; Giáo dục cá nhân hóa; Liên thông trong giáo dục; Đào tạo; Giáo dục thường xuyên; Giáo dục chính quy; Giáo dục phi chính quy, giáo dục không chính quy; Giáo dục bổ túc; Giáo dục từ xa; Giáo dục tại chức; Hệ thống giáo dục.

Hệ thống giáo dục quốc dân: Đây là khái niệm chỉ được sử dụng ở Việt Nam. Có thể hiểu là 'một cấu trúc tổng thể và thống nhất về giáo dục của đất nước, được thừa nhận bởi Luật'.
Đề tài đề cập tới 7 nguyên tắc xây dựng hệ thống giáo dục: 1/ Hệ thống giáo dục của dân, do dân và vì dân. Mọi người đi học và được học suốt đời theo nguyện vọng và năng lực trong một xã hội học tập; 2/ Hệ thống giáo dục quốc dân phải thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; 3/ Hệ thống giáo dục quốc dân phải đa dạng, mềm dẻo, đảm bảo đầy đủ tính dân chủ, công bằng hướng đến người học và tạo điều kiện cho bất kỳ người học đều có thể tìm thấy con đường phù hợp nhất để học và học đến trình độ cao nhất mà mình muốn; 4/ Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống mở; mở với mọi người, mở với thực tiễn phát triển đất nước; 5/ Xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân đảm bảo năng lực cạnh tranh trong bối cảnh phát triển các thang bậc trình độ học vấn giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, hài hoà phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam; 6/ Hệ thống giáo dục quốc dân đạt tầm quốc tế, đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại, truyền thống dân tộc phù hợp với điều kiện Việt Nam góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu chiến lược đến năm 2020; 7/ Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam tương thích với phân loại giáo dục quốc tế (ICED-UNESCO 1997) và hệ thống giáo dục các nước phát triển.

21 tiêu chí của một hệ thống giáo dục phù hợp với xu thế thời đại: Hệ thống GDQD phải là một chỉnh thể; đảm bảo tính dân tộc, tiên tiến và hiện đại; là một hệ thống gồm nhiều thang bậc trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ nghề nghiệp; thể hiện rõ tính phổ thông hàn lâm và tính nghề nghiệp ứng dụng; đảm bảo tính đại chúng và tính tinh hoa; thể hiện tính phổ thông hóa giáo dục nghề nghiệp và nghề nghiệp hóa giáo dục phổ thông; đảm bảo tính phân hoá cao trong toàn hệ thống; hiện và đảm bảo được 3 chức năng cơ bản: giáo dục, nghiên cứu và dịch vụ; đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng và tính hiệu quả; có tính kế thừa; có tính sáng tạo; đảm bảo tính đa dạng trong thống nhất; đảm bảo sự liên thông dọc ngang và trong ngoài; đảm bảo tính liên kết, hiệp đồng, bổ trợ lẫn nhau giữa các tầng bậc trỡnh độ; bảo đảm tính trật tự, tuần tự và cả tính nhảy vọt; có tính độc lập tương đối; có tính tương đối ổn định; có tính cơ động, linh hoạt; có tính cạnh tranh; là một trong những động lực phát triển kinh tế-xã hội; là hệ thống mở.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống giáo dục: các yếu tố chính trị; các yếu tố kinh tế - xã hội; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; sự phát triển của kinh tế thị trường; xu thế phát triển giáo dục trên thế giới, trong đó có các xu thế nổi bật như phân luồng trong hệ thống giáo dục; xu thế kết nối linh hoạt giữa GD phổ thông và GD nghề nghiệp; xu thế mở của hệ thống giáo dục; các cơ hội và thách thức do quá trình hội nhập quốc tế mang lại.

Đề tài cũng đề cập đến xu thế và kinh nghiệm của một số quốc gia về cơ cấu và quản lý hệ thống giáo dục quốc dân.

2/ Về thực tiễn

Thực trạng hệ thống giáo dục ở Việt Nam được đề tài nghiên cứu theo các cấp bậc học (Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông) theo từng giai đoạn (1945-1950, 1950-1956, 1956-1975, 1975-2002) và thực trạng hệ thống và quản lý hệ thống giáo dục hiện nay.

Đề tài đề xuất đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân dựa trên quan điểm chung, như sau: 1/ Nên gọi là Bộ Giáo dục chứ không nên là Bộ GD&ĐT; 2/ Nên đưa giáo dục mẫu giáo (với trẻ từ 3 đến 5 tuổi) vào hệ thống giáo dục quốc dân và thực hiện phổ cập giáo dục mẫu giáo 5 tuổi; 3/ Thuật ngữ “Giáo dục cơ bản” phải được xác định ở Việt Nam để quy định một nền học vấn tối thiểu, bắt buộc cho mọi công dân; 4/ Nên xác định rõ: Giáo dục cơ bản đồng nhất với giáo dục bắt buộc (tiểu học và THCS); Vẫn giữ khái niệm giáo dục phổ cập đối với một số năm đầu của THPT và ở những nơi có điều kiện; 5/ Số năm học tiểu học ở Việt Nam nên là 6, THCS có thể rút xuống 3 năm; 6/ Ở Việt Nam nếu vẫn để hai hệ thống tồn tại trong cùng hệ thống giáo dục quốc dân thì phải gọi là “Hệ thống giáo dục chính quy” và “Hệ thống giáo dục không chính quy” (thay cho thuật ngữ “Giáo dục Thường xuyên”); 7/ Hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam phải bao gồm cả giáo dục (theo nghĩa Việt Nam sử dụng) và dạy nghề, để tránh chỉ đạo thiếu nhất quán, giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam chỉ chịu sự quản lý của Bộ GD&ĐT; 8/ Cần có các loại trường dạy nghề hoặc trường kỹ thuật để tạo nên sự phân luồng mạnh ở Việt Nam (đặc biệt sau giáo dục cơ bản).

Đề tài đề xuất 2 phương án đổi mới quản lý hệ thống giáo dục Việt nam

* Phương án 1 (phục vụ sửa đổi Luật Giáo dục 2005):

- Đối với giáo dục Mầm non vẫn giữ nguyên tên gọi như Luật GD 2005 qui định là: ”Giáo dục mầm non”. Lứa tuổi: nên thay đổi lứa tuổi mà Luật GD 2005 qui định: trường MN nhận trẻ ”từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi” thành ”từ sáu tháng tuổi đến sáu tuổi”. Cơ cấu hệ thống: đề nghị thay đổi 2 điều trong Luật GD 2005 cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Quản lí nhà nước đối với hệ thống giáo dục mầm non: vẫn giữ nguyên như hiện tại có các cấp quản lí giáo dục mầm non từ Vụ Giáo dục Mầm non (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo) đến các phòng Mầm non thuộc các Sở Giáo dục và Đào tạo, cho đến các ban giám hiệu các trường mầm non/mẫu giáo/nhà trẻ. Quản lí các cơ sở giáo dục mầm non: Các trường mầm non công lập, dân lập hay tư thục đều có Ban giám hiệu trường. Ban giám hiệu trường mầm non công lập chịu trách nhiệm về các mặt hoạt động của nhà trường và chịu sự chỉ đạo, giám sát toàn diện của cơ quan quản lí mầm non cấp trên trực tiếp (ở các trường mầm non tư thục hay dân lập, việc chỉ đạo, giám sát của cơ quan quản lí mầm non cấp trên trực tiếp chủ yếu về mặt chuyên môn);

- Đối với giáo dục Phổ thông- Vẫn giữ tên gọi như Luật Giáo dục 2005 qui định là “giáo dục phổ thông”. Hiện nay Luật Giáo dục 2005 chưa có điều khoản qui định vị trí của giáo dục phổ thông, từng cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Vì vậy chưa làm rõ mối quan hệ giữa hệ thống này với các hệ thống khác trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên trước mắt vẫn giữ sự phân luồng học sinh phổ thông như Luật giáo dục 2005 qui định. Số năm học vẫn giữ như Luật giáo dục là 12 năm. Cơ cấu hệ thống vẫn giữ như Luật Giáo dục 2005, tuy nhiên tuổi vào lớp đầu cấp không qui định cứng nhắc. Về cơ bản vẫn giữ như Luật Giáo dục 2005 với 5 loại hình trường: trường tiểu học; trường trung học cơ sở; trường trung học phổ thông; trường phổ thông có nhiều cấp học; trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp –dạy nghề (cơ sở giáo dục này thêm chức năng dạy nghề ngắn hạn). Vẫn giữ các loại hình trường chuyên biệt: trường phổ thông dân tộc nội trú; trường dự bị đại học; trường trung học phổ thông chuyên; trường năng khiếu dành cho các lĩnh vực thể dục, thể thao, nghệ thuật. Nên bỏ loại hình trường phổ thông dân tộc bán trú, vì Nhà nước không đủ điều kiện để bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính cho loại hình thường chuyên biệt này. Giữ nguyên qui định của Luật Giáo dục 2005, gồm có hai loại bằng: Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở và bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. Về quản lý hệ thống: Đổi mới theo hướng phi tập trung hóa, tăng cường quyền tự chủ của nhà trường đi đôi với hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch để đảm bảo sự giám sát của cộng đồng xã hội. Do đó cần có những điều Luật xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp trung ương và địa phương đối với lĩnh vực giáo dục.Về phân cấp quản lí trong hệ thống giáo dục phổ thông (UBND tỉnh/t.p toàn quyền quyết định việc ban hành chính sách giáo dục của địa phương và phê duyệt kế hoạch phát triển GD địa phương; Giám đốc Sở GD-ÐT được toàn quyền quyết định việc cụ thể hoá/qui định phần lựa chọn của chương trình GD và danh mục tài liệu tham khảo cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện địa phương; quyết định việc cụ thể hoá qui định danh mục bổ sung về thiết bị dạy học theo chương trình GD cho phù hợp với trình độ và điều kiện địa phương, ban hành tài liệu hướng giáo viên trên địa bàn, tổ chức công tác nghiên cứu khoa học trong ngành giáo dục địa phương. UBND tỉnh/t.p. được toàn quyền quyết định phê duyệt chỉ tiêu đào tạo giáo viên THCS và tiểu học ; và Sở GD-ÐT được toàn quyền quyết định việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên trên địa bàn.;

- Đối với giáo dục Nghề nghiệp: Thực hiện đúng Luật GD 2005 là đưa Dạy nghề về Bộ Giáo dục đào tạo để thống nhất một đầu mối quản lý Nhà nước như Luật Giáo dục 2005 đã quy định. Thực hiện phân cấp quản lý triệt để cho các địa phương quản lý nhà nước về GDNN và giao nhiều quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo trong đó có quyền tự chủ về tài chính, về nhân sự và về chương trình đào tạo. Về cơ cấu hệ thống GDNN thì giữ nguyên như Luật GD 2005 quy định;

- Đối với giáo dục Đại học: 1/ Đào tạo trình độ cao đẳng: gồm các loại hình đào tạo cao đẳng (kỹ thuật-công nghệ, nghiệp vụ, nghề) đào tạo nhân lực thực hành nghề nghiệp đa dạng ở trình độ cao đẳng được thực hiện từ 1 đến 3 năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo. Đào tạo sau trung học lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ và dạy nghề ở trình độ cao đẳng được tách khỏi giáo dục đại học và là trình độ cao nhất trong hệ thống dạy nghề; 2/ Đào tạo trình độ đại học: gồm các loại hình đào tạo cử nhân đại học theo các chuyên ngành được thực hiện từ 1 đến 6 năm, tuỳ theo ngành nghề đào tạo và bằng tốt nghiệp của người học; 3/ Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ 1 đến 2 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học; 4/ Đào tạo trình độ tiến sĩ: Thực hiện từ 4 đến 5 năm đối với người có bằng tốt nghiệp đại học và từ 2 đến 3 năm đối với người có bằng thạc sĩ; 5/ Đào tạo sau tiến sĩ: các khóa đào tạo-nghiên cứu sau tiến sĩ ( Post-Doctor) cấp các chứng chỉ chuyên sâu cao cấp theo các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, công nghệ và có giá trị trong quá trình lấy các chứng nhận, chức danh nghề nghiệp như: Trợ lý giáo sư, Phó giáo sư, nghiên cứu viên cao cấp v.v . Về công tác quản lý giáo dục đại học, với các trường đại học, cao đẳng công lập trực thuộc các Bộ, tỉnh, thành phố trước mắt Bộ chủ quản, tỉnh, thành phố vẫn phối hợp vối Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý nhà nước như hiện nay. Tuy nhiên cần phân cấp quản lý triệt để cho nhà trường theo đúng sứ mệnh, chức năng và nhiệm vụ. Đảm bảo cho các trường này có quyền tự chủ và thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình; Với các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập cần giao cho các tỉnh, thành phố (trực thuộc địa phương) quản lý. Tỉnh và thành phố có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để quản lý nhà nước như hiện nay. Tuy nhiên cần phân cấp quản lý triệt để cho nhà trường theo đúng sứ mệnh, chức năng và nhiệm vụ. Đảm bảo cho các trường này có quyền tự chủ và thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình.

- Đối với giáo dục Thường xuyên: 1/ Về cơ cấu cấp học/trình độ của GDTX- Phân hệ GDTX không cấp lớp thực hiện Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học; cập nhật kiến thức, kĩ năng, chuyển giao công nghệ và chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Học viên sau khi học hết chương trình trên, nếu có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì được dự kiểm tra, nếu đạt yêu cầu thì được cấp chứng chỉ GDTX; Phân hệ GDTX theo cấp lớp hay còn gọi là phân hệ GDTX lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân. Thực hiện Chương trình Xoá mù chữ và Giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân. Học viên học xong chương trình XMC và Giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ có thể học tiếp lên THCS chính qui hoặc GDTX cấp THCS (Bổ túc THCS) hoặc học sơ cấp nghề hoặc tham gia lao động sản xuất và học không cần bằng cấp, chứng chỉ; Học viên học xong GDTX cấp THCS (Bổ túc THCS) có thể học lên THPT chính qui hoặc GDTX cấp THPT (Bổ túc THPT) hoặc học sơ cấp/trung cấp nghề hoặc tham gia lao động sản xuất và học không cần bằng cấp, chứng chỉ; Học viên tốt nghiệp GDTX cấp THPT (Bổ túc THPT) có thể học lên cao đẳng, đại học hoặc tham gia lao động sản xuất và học không cần bằng cấp, chứng chỉ; 2/ Các loại hình cơ sở GDTX: Theo điều 46, Luật Giáo dục 2005, các cơ sở GDTX gồm: Trung tâm GDTX được tổ chức tại cấp tỉnh và cấp huyện; Trung tâm học tập cộng đồng được tổ chức tại xã, phường, thị trấn. Ngoài ra, chương trình GDTX còn được thực hiện tại các cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học và thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng; 3/ Hệ thống văn bằng, chứng chỉ của GDTX: Theo điều 47, Luật Giáo dục 2005, GDTX có hệ thống các văn bằng, chứng chỉ sau: Bằng tốt nghiệp Bổ túc THCS; Bằng tốt nghiệp Bổ túc THPT; Chứng chỉ học xong Chương trình XMC; Chứng chỉ ngoại ngữ, tin học ứng dụng A,B,C. Việc quản lý việc công nhận, cấp phát văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống GDQD được thực hiện thống nhất theo các Quy chế về VBCC của Bộ GD&ĐT; 4/ Quản lí hệ thống GDTX: Hệ thống GDTX được quản lý theo chiều dọc từ trung ương tới địa phương gồm 4 cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Tuy nhiên, trước mắt cần phân cấp rõ ràng và cụ thể cho các địa phương (Tỉnh, huyện). UBND tỉnh, huyện cần tham gia quản lí GDTX của tỉnh, hoặc của huyện mình; 5/ Về quản lí các cơ sở giáo dục thường xuyên: TTGDTX cấp tỉnh do Sở GD&ĐT quản lí; TTGDTX cấp huyện do Sở GD&ĐT quản lí; TTHTCĐ do phòng GD&ĐT quản lý. Tuy nhiên, việc quản lí các cơ sở GDTX cần phân cấp cho UBND tỉnh, huyện. Đặc biệt ở cấp cơ sở/cấp xã, UBND xã cần tham gia quản lí các TTHTCĐ cùng với phòng giáo dục.

* Phương án 2 (Về lâu dài)

- Đối với giáo dục Mầm non: vẫn giữ nguyên tên gọi như Luật GD 2005 qui định là: ”Giáo dục mầm non”; Lứa tuổi: nên thay đổi lứa tuổi mà Luật GD 2005 qui định: trường MN nhận trẻ ”từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi” thành ”từ sáu tháng tuổi đến sáu tuổi” làm cơ sở để Nhà nước qui định thời gian nghỉ đẻ của các bà mẹ lên 6 tháng, giúp các bà mẹ có điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn ở gia đình; Quản lí nhà nước : Nhà nước có trách nhiệm quản lí, đầu tư phát triển giáo dục mầm non. Mạng lưới, loại hình cơ sở giáo dục mầm non: Tiến hành qui hoạch về qui mô phát triển, cơ cấu loại hình giáo dục mầm non đáp ứng nhu cầu và phù hợp với từng vùng, theo điều kiện kinh tế xã hội, trong đó chú trọng các vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc; bao gồm các loại hình trường: công lập, công lập tự chủ tài chính, dân lập và tư thục. Đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, Nhà nước: quan tâm và ưu tiên đầu tư kinh phí xây dựng các cơ sở giáo dục mầm non công lập tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới; Xã hội và cha mẹ: Tiếp tục đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa giáo dục mầm non. Huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội cùng chăm lo và tham gia phát triển giáo dục mầm non, huy động sự đóng góp của gia đình và cộng đồng xã hội. Tăng đóng góp của hộ gia đình nhằm bù chi phí của giáo dục mầm non theo 2 cách: phát triển hệ thống giáo dục tư thục và tăng thu học phí ở các trường công lập. Đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lí: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục mầm non theo từng giai đoạn ở mỗi địa phương và cả nước; Củng cố, qui hoạch lại mạng lưới các trường sư phạm mầm non theo năng lực đào tạo, phù hợp với qui hoạch mạng lưới chung; Xây dựng các chuẩn đào tạo đối với cán bộ quản lí, thể chế hóa văn bằng chứng chỉ đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục mầm non. Chính sách đãi ngộ đối với giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục mầm non: Đổi mới mức lương cho giáo viên mầm non đủ đảm bảo sự khuyến khích và yên tâm với nghề; Phối hợp các bộ, ngành tiếp tục xây dựng và hoàn thiện định mức lao động, chế độ làm việc của giáo viên mầm non và cán bộ quản lí giáo dục mầm non; Bổ sung các chính sách ưu đãi đối với giáo viên mầm non và cán bộ quản lí giáo dục mầm non ở các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và ở các trường mầm non dành cho trẻ em khuyết tật. Đánh giá, kiểm định: Xây dựng nội dung và công cụ kiểm định chất lượng giáo dục mầm non; Xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục mầm non với cơ chế chính sách và qui chế hoạt động quản lí chất lượng; Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm định chất lượng. giáo dục mầm non.

- Đối với giáo dục Phổ thông: Hệ thống giáo dục phổ thông cần đáp ứng các yêu cầu sau: Tăng tính mở của hệ thống; tạo điều kiện cho việc phân luồng sau giáo dục cơ bản bắt buộc (giáo dục 9 năm bắt buộc) và sau từng cấp học tiếp theo; Tăng tính liên thông giữa các phân hệ ; hợp lý hóa về thời gian đào tạo. Hệ thống GD phổ thông gồm 3 cấp học: tiểu học, THCS, THPT kéo dài trong 12 năm (với những vùng đặc biệt có thể kèo dài 13 năm). Các loại hình trường phổ thông gồm: Trường tiểu học 5 năm hoặc 6 năm (đối với vùng dân tộc thiểu số); Trường trung học cơ sở; Trường phổ thông cơ sở 9 năm hoặc 10 năm (đối với vùng dân tộc thiểu số). Trường THPT có; THPT hàn lâm; Trường trung học chuyên/năng khiếu; Trường trung học nghề; Trường phổ thông chuyên biệt dành cho trẻ em khuyết tật; Trường phổ thông dân tộc nội trú (THCS và THPT); Trường năng khiếu dành cho các lĩnh vực thể dục thể thao, nghệ thuật; Trường phổ thông vừa học vừa làm; Văn bằng , chứng chỉ: Ở tiểu học và THCS đánh giá thường niên kết quả học tập và đạo đức học sinh như qui định trong luật giáo dục (2005, trung học phổ thông, thay đánh giá thường niên bằng đánh giá tín chỉ. Học sinh phải được số lượng tín chỉ theo qui định thì được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; Về quản lý hệ thống: Đổi mới theo hướng phi tập trung hóa, tăng cường quyền tự chủ của nhà trường đi đôi với hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch để đảm bảo sự giám sát của cộng đồng xã hội. Do đó cần có những điều luật xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp trung ương và địa phương đối với lĩnh vực giáo dục.

- Đối với giáo dục Nghề nghiệp: 1/ Đổi mới quản lý hệ thống GDNN -Thống nhất một đầu mối quản lý Nhà nước về GDNN, Phân cấp quản lý, xoá bỏ Bộ chủ quản, giao quyền chủ động cho sở đào tạo. Bộ chủ quản là một cơ quan quản lý cấp trung gian, chỉ có ý nghĩa trong thời kỳ bao cấp khi mà các Bộ chủ quản hàng năm cấp kinh phí đào tạo cho trường, bố trí cán bộ cho các trường . Ngày nay với chủ trương giao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo, cơ chế Bộ chủ quản đã không còn phù hợp. Cải tổ cơ cấu hệ thống GDNN, Thành lập lại loại hình “Trường Trung học nghề“, Sáp nhập TCCN và DN thành hệ thống GDNN , Phân hoá THCN, Chuyển các trường cao đẳng khác trong hệ thống GDQD về hệ thống GDNN , Sơ đồ hệ thống GDQD đề nghị điều chỉnh với các trình độ đào tạo và các loại hình cơ sở đào tạo của hệ thống bao gồm: Sơ cấp nghề; Trung cấp nghề; Trung học nghề; Cao đẳng.

- Đối với giáo dục Đại học: Các cấp trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục đại học: Đào tạo trình độ cao đẳng; Đào tạo trình độ đại học; Đào tạo trình độ thạc sĩ; Đào tạo trình độ tiến sĩ; Đào tạo sau tiến sĩ.

- Đối với giáo dục Thường xuyên: 1/ Về tên gọi của hệ thống: Không dùng thuật ngữ “GDTX”, mà dùng “GDKCQ” để đặt tên cho hệ thông giáo dục này; 2/ Về cơ cấu cấp học/trình độ của GDKCQ - GDKCQ sẽ bao gồm 2 phân hệ, đó là: Phân hệ GDKCQ không theo cấp lớp và phân hệ GDKCQ theo cấp lớp; 3/ Về các loại hình cơ sở giáo dục GDKCQ, bao gồm: Trung tâm GDKCQ cấp tỉnh, huyện. Ngoài các cơ sở giáo dục do Bộ Giáo dục quản lí, còn có các cơ sở giáo dục của các tổ chức, các cơ quan, xí nghiệp, công ty thuộc các thành phần kinh tế khác nhau ; 4/ Về hệ thống văn bằng, chứng chỉ của GDKCQ: Đối với phân hệ GDKCQ theo cấp lớp sẽ có văn bằng, chứng chỉ sau: Chứng chỉ học xong Bổ túc tiểu học, Bổ túc THCS, Bổ túc THPT; Bằng tốt nghiệp Bổ túc THPT. Đối với phân hệ GDKCQ theo cấp lớp để lấy văn bằng GDCQ (phân hệ giáo dục cận chính qui) dành cho những người có nhu cầu về văn bằng chính qui sẽ có văn bằng chính qui cùng trình độ. Đối với phân hệ GDKCQ không theo cấp lớp, sẽ có hệ thống các chứng chỉ học xong chương trình hoặc chuyên đề nào đó. Nếu người học học xong chương trình hoặc chuyên đề nào đó và có đủ có đủ điều kiện theo qui định của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT thì được dự kiếm tra và nếu đạt yêu cầu thì được cấp chứng chỉ; 5/ Về quản lí hệ thống GDKCQ: Củng cố, hoàn thiện Bộ máy quản lí, chỉ đạo GDKCQ từ trung ương xuống địa phương. Quản lí theo chiều dọc từ trung ương tới địa phương gồm 4 cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã .

3/ Một số khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất một số khuyến nghị, cụ thể:

- Đối với giáo dục Mầm non: 1/ Nhà nước ưu tiên đầu tư kinh phí xây dựng các cơ sở giáo dục mầm non công lập tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới; 2/ Củng cố, qui hoạch lại mạng lưới các trường sư phạm mầm non theo năng lực đào tạo, phù hợp với qui hoạch mạng lưới chung. Xây dựng các chuẩn đào tạo đối với cán bộ quản lí, thể chế hóa văn bằng chứng chỉ đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục mầm non; 3/ Đổi mới quản lý theo hướng phi tập trung hóa, tăng cường quyền tự chủ của nhà trường đi đôi với hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch để đảm bảo sự giám sát của cộng đồng xã hội.

- Đối với giáo dục Phổ thông: 1/ Tăng tính mở của hệ thống, đảm bảo cho người học sau khi hoàn thành giai đoạn giáo dục cơ bản bắt buộc, càng học lên càng có cơ hội lựa chọn phương án học tập phù hợp với khả năng và điều kiện cá nhân. Tạo điều kiện cho việc phân luồng sau giáo dục cơ bản bắt buộc (giáo dục 9 năm bắt buộc) và sau từng cấp học tiếp theo, Tăng tính liên thông giữa các phân hệ để đảm bảo người học dù chọn phương án học tập nào, nếu có năng lực.

- Đối với giáo dục Nghề nghiệp: 1/ Thực hiện đổi mới quản lý GDNN thông qua hệ thống các giải pháp chủ yếu sau đây: Thống nhất một đầu mối quản lý Nhà nước về GDNN, Phân cấp quản lý, xoá bỏ Bộ chủ quản, giao quyền chủ động cho sở đào tạo; 2/ Cải tổ cơ cấu hệ thống GDNN với các nội dung: Thành lập lại loại hình “Trường trung học nghề”; Sáp nhập TCCN và DN thành hệ thống GDNN ; phân hoá THCN; Chuyển các trường cao đẳng khác trong hệ thống GDQD về hệ thống GDNN . Các trình độ đào tạo và các loại hình cơ sở đào tạo gồm Sơ cấp nghề , Trung cấp nghề, Trung học nghề, Cao đẳng:

- Đối với giáo dục Đại học: 1/ Kiến nghị 1- Giáo dục cao đẳng gồm 2 nhánh (Nhánh 1 là các trường cao đẳng chuyên ngành và nghiệp vụ như sư phạm, văn hóa, văn thư- hành chính, y, nông nghiệp; tài chính-ngân hàng . xếp trong hệ thống giáo dục đại học; Nhánh 2 là các trường cao đẳng khối kỹ thuật-công nghệ được xếp trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp (Dạy nghề ) và là trình độ đào tạo cao nhất của giáo dục nghề nghiệp. Giáo dục đại học gồm 2 nhánh (Nhánh 1 là các trường đại học nghiên cứu; Nhánh 2 là các trường đại học nghề nghiệp ứng dụng); 2/ Kiến nghị 2- Tất cả các trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu đều được cấp văn bằng, chứng chỉ ở tất cả các trình độ mà các cơ sở này được nhà nước cho phép đào tạo.Hệ thống văn bằng chứng chỉ trong hệ thống giáo dục đại học ở nước ta gồm các loạị bằng cao đẳng, bằng cử nhân, các danh hiệu kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ được cấp sau khi có bằng cử nhân và các chứng chỉ nghề nghiệp, giấy phép hành nghề, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ. Tên các văn bằng ở tất cả các trình độ đều được ghi kèm theo tên chuyên ngành đào tạo; 3/ Kiến nghị 3- Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý nhà nước duy nhất về giáo dục đại học. Trong đầu tư có thể phân bổ theo các danh hiệu trường đại học nghiên cứu, trường đại học trọng điểm .(trên cơ sở chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học). Đổi mới tổ chức Hội đồng trường theo hướng đảm bảo triệt để quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các trường trong giáo dục đại học.

- Đối với giáo dục không chính quy: Củng cố, hoàn thiện bộ máy quản lí, chỉ đạo GDKCQ từ trung ương xuống địa phương. Việc quản lí hệ thống GDKCQ sẽ được phân cấp cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã), trong đó ngành Giáo dục (Sở, Phòng Giáo dục) chỉ chịu trách nhiệm quản lí nhà nước về chuyên môn.

TỪ KHÓA: 1/ Hệ thống giáo dục quốc dân; 2/ Hệ thống giáo dục.

Chi tiết xin liên hệ: Phòng Thư viện, số điện thoại: 04-39423754 hoặc theo địa chỉ thư điện tử: tttv@vnies.edu.vn

Theo vnies.edu.vn - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

Xem Thêm: Đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam sẽ giúp ích cho bạn.