Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Nghiên cứu sử dụng thực vật để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng tại các vùng khai thác khoáng sản

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18524 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Nghiên cứu sử dụng thực vật để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng tại các vùng khai thác khoáng sản

    3.1.1. Hàm lượng kim loại nặng trong đất ở 04 vùng mỏ nghiên cứu 42
    3.1.2. Hàm lượng kim loại nặng trong thực vật ở 04 vùng mỏ nghiên 44
    MỤC LỤC
    Trang
    MỞ ĐẦU 1
    Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
    1.1. Ảnh hưởng của kim loại nặng đến sức khoẻ con người và môi
    trường
    4
    1.1.1. Ảnh hưởng của As đến sức khoẻ con người 6
    1.1.2. Ảnh hưởng của Pb đến sức khoẻ con người 7
    1.1.3. Ảnh hưởng của Cd đến sức khoẻ con người 9
    1.1.4. Ảnh hưởng của Zn đến sức khoẻ con người 10
    1.2. Về tình hình ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới 11
    1.3. Về tình hình ô nhiễm KLN ở Việt Nam 13
    1.4.

    Các phương pháp xử lý kim loại nặng trong đất

    15
    1.4.1. Phương pháp cơ học 15
    1.4.2. Phương pháp vật lý và hoá học 16
    1.4.3. Phương pháp sinh học 16
    1.4.3.1 Xử lý bằng vi sinh vật 17
    1.4.3.2 Xử lý bằng thực vật 17
    1.5. Xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất bằng thực vật 19
    1.5.1. Các loài thực vật có khả năng xử lý ô nhiễm 19
    1.5.2. Về công nghệ xử lý KLN bằng thực vật trên thế giới 26
    1.5.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 26
    1.5.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 29
    1.5.3. Cơ hội và thách thức trong việc sử dụng thực vật cho xử lý ô
    nhiễm KLN trong đất, trong nước
    31
    Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
    2.1. Địa điểm nghiên cứu 36
    2.2. Đối tượng nghiên cứu 36
    2.3. Phương pháp nghiên cứu 36
    2.3.1. Phương pháp nghiên cứu liên quan đến nội dung 1: “Điều tra
    khảo sát tình trạng ô nhiễm môi trường đất và khu hệ thực vật ở
    04 vùng đã và đang khai thác mỏ đặc trưng thuộc tỉnh Thái
    Nguyên”
    36
    2.3.2. Phương pháp nghiên cứu liên quan đến nội dung 2: “Xây dựng
    danh lục các loài thực vật có khả năng xử lý đất ô nhiễm kim
    loại nặng”
    37
    2.3.3. Phương pháp nghiên cứu liên quan đến nội dung 3: “Xây dựng
    quy trình sử dụng thực vật xử lý đất ô nhiễm kim loại nặng”
    37
    2.3.4. Nhóm phương pháp liên quan tới nội dung 4 (Xây dựng mô
    hình trình diễn) Phương pháp khảo sát thực địa
    40
    Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 42
    3.1. Điều tra, khảo sát tình trạng ô nhiễm môi trường đất và đánh giá
    khả năng chống chịu, tích luỹ kim loại nặng của thực vật ở bốn
    vùng đã và đang khai mỏ đặc trưng thuộc tỉnh Thái Nguyên
    42 cứu
    3.1.3. Xác định hệ số tích luỹ sinh học những kim loại nặng nghiên cứu 47
    3.2. Xây dựng Danh lục các loài thực vật có khả năng tích luỹ
    kim loại nặng
    49
    3.2.1. Thành phần hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 49
    3.2.2. Các loài thực vật có khả năng tích tụ kim loại nặng ở khu vực
    nghiên cứu
    67
    3.2.3. So sánh với các loài siêu tích tụ kim loại nặng trên thế giới 68
    3.2.4. Mô tả một số loài có khả năng siêu tích tụ kim loại nặng phân bố
    trong khu vực nghiên cứu
    70
    3.2.4.1. Pityrogramma calomelanos (L.) Link, 1833 - Ráng chò chanh
    (Dương xỉ)
    70
    3.2.4.2. Pteris vittata L. - Ráng sẹo gà dải (Dương xỉ) 71
    3.2.4.4. Brassica juncea (L.) Czern. 1859 - Cải bẹ xanh, Cải canh 72
    3.2.4.5. Brassica rapa L. cv. group Pak Choi - Cải bẹ trắng, Cải thìa, Cải
    ngọt
    73
    3.2.4.6. Cynodon dactylon (L.) Persoon, 1805 - Cỏ gà, cỏ Chỉ trắng 74
    3.2.4.7. Eleusine indica (L.) Gaertn. 1788 - Cỏ Mần trầu, cỏ Chỉ tía 75
    3.2.4.8. Vetiveria zizanioides (L.) Nash, 1903 - Hương lau, Hương bài,
    cỏ Vetiver
    76
    3.3.1. Các nghiên cứu về Dương xỉ Pteris vittata 78
    3.3.1.1. Nghiên cứu nhân giống loài Dương xỉ Pteris vittata từ bào tử 79
    3.3.1.2. Nghiên cứu khả năng chống chịu và tích luỹ As của loài dương
    xỉ Pteris vittata thu từ vùng khai thác mỏ Thái Nguyên
    87
    3.3.1.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng N, P lên sinh
    trưởng, hấp thu và làm sạch As của Pteris vittata.
    90
    3.3.1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng phân bón vô cơ và hữu cơ
    lên sinh trưởng và tích lũy As của cây Pteris vittata
    96
    3.3.1.5. Nghiên cứu khả năng tích luỹ As theo thời gian của loài Pteris
    vittata
    97
    3.3.1.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của EDTA lên sinh trưởng và tích luỹ As
    của dương xỉ Pteris vittata
    99
    3.3.1.7. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH lên sinh trưởng và tích lũy As của
    cây Pteris vittata
    103
    3.3.1.8 Nghiên cứu khả năng xử lý Cd, Pb và Zn của cây Pteris vittata 106
    3.3.1.9. Thí nghiệm chống chịu và hấp thu Zn 109
    3.3.1.10. Thí nghiệm chống chịu và hấp thu Cd 112
    3.3.1.11. Thí nghiệm hấp thu Pb, Zn theo thời gian 114
    3.3.1.12. Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các tỉ lệ đất ô nhiễm khác
    nhau lên sinh trưởng và tích luỹ Pb, Zn của cây
    118
    3.3.1.13. Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng phân bón lên khả năng sinh
    trưởng và hấp thu Pb, Zn của Pteris vittata
    121
    3.3.2. Các nghiên cứu về Dương xỉ Pityrogramma calomelanos 125
    3.3.2.1. Nghiên cứu nhân giống loài dương xỉ Pityrogramma
    calomelanos từ bào tử
    126
    3.3.2.2. Nghiên cứu khả năng chống chịu và tích luỹ As của loài 133 Pityrogramma calomelanos thu từ vùng khai thác mỏ Thái
    Nguyên
    3.3.2.3. Ảnh hưởng của N, P lên khả năng sinh trưởng và tích lũy As của 136
    3.3.2.4. Nghiên cứu khả năng tích luỹ As theo thời gian của loài dương
    xỉ Pityrogramma calomelanos
    140
    3.3.2.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của EDTA lên sinh trưởng và tích luỹ As
    của dương xỉ Pityrogramma calomelanos
    143
    3.3.2.6. Ảnh hưởng của pH lên sinh trưởng và tích lũy As của
    Pityrogramma calomelanos
    145
    3.3.2.7. Ảnh hưởng của các dạng phân bón vô cơ và hữu cơ lên sinh
    trưởng và tích lũy As của cây dương xỉ Pityrogramma
    calomelanos
    146
    3.3.3. Các nghiên cứu về cỏ Mần trầu 149
    3.3.3.1. Thí nghiệm sức chống chịu Pb của cây cỏ mần trầu 149
    3.3.3.2. Thí nghiệm nghiên cứu khả năng sinh trưởng và chống chịu của
    cây cỏ Mần trầu với Zn
    151
    3.3.3.3. Thí nghiệm ảnh hưởng của hàm lượng Pb trong đất lên sinh
    trưởng và hấp thu Pb của cỏ M ần tr ầu
    153
    3.3.3.4. Thí nghiệm ảnh hưởng của hàm lượng Zn trong đất lên sinh
    trưởng và hấp thu Zn của cỏ Mần trầu
    156
    3.3.3.5. Thí nghiệm đánh giá khả năng hấp thu và loại bỏ Pb và Zn trong
    đất của cây cỏ Mần trầu theo thời gian
    158
    3.3.3.6. Đánh giá sinh trưởng và hấp thu Pb và Zn của cỏ Mần trầu trồng
    trên đất ô nhiễm Pb, Zn
    161
    3.3.3.7. Ảnh hưởng của phân bón N, P, K lên sinh trưởng và hấp thu Pb,
    Zn
    163
    3.3.4. Kết quả nghiên cứu về cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides L.) 165
    3.3.4.1. Nghiên cứu khả năng hấp thụ Pb, Cd, As của cỏ Vetiver trồng
    trên đất ô nhiễm do khai thác khoáng sản (thí nghiệm trong
    chậu)
    166
    3.3.4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng, phát triển
    và khả năng hấp thụ kim loại nặng của cỏ Vetiver trồng trên đất
    ô nhiễm Pb
    175
    3.3.4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng, phát triển và
    khả năng hấp thụ kim loại nặng của cỏ Vetiver trồng trên đất ô
    nhiễm Pb
    181
    3.3.4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát
    triển và khả năng hấp thụ kim loại nặng của cỏ Vetiver trồng
    trên đất ô nhiễm Pb
    181
    3.3.4.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của chu kỳ thu hoạch đến sinh trưởng,
    phát triển và khả năng hấp thụ kim loại nặng của cỏ Vetiver
    trồng trên đất ô nhiễm
    181
    3.3.5. Các kết quả nghiên cứu về Cải xanh (Brassica juncea) 182
    3.3.5.1. ThÝ nghiÖm ¶nh hưëng cña hµm lưîng As, Pb, Cd ®Õn sù n¶y
    mÇm, sinh trưëng vµ tÝch luü c¸c KL nµy cña c¶i
    183
    3.3.5.2. ThÝ nghiÖm ¶nh hưëng cña ph©n bãn lªn sinh trưëng vµ hÊp thu 183 As (TN4), Pb (TN5) vµ Cd (TN6) cña c¶i
    3.3.5.3. ThÝ nghiÖm trång C¶i xanh trªn ®Êt « nhiÔm As do khai th¸c
    kho¸ng s¶n (TN7)
    184
    3.3.5.4. ThÝ nghiÖm ®¸nh gi¸ sinh trưëng 184
    3.3.6. Nghiên cứu về Nghể nước - Polygonum hydropiper) 208
    3.3.6.1. Bố trí thí nghiệm 209
    3.3.6.2. Kết quả nghiên cứu và bàn luận 209
    3.3.6.3. Nhận xét chung về cây Nghể nước 213
    3.3.7. Nghiên cứu về cỏ Voi lai (Pennisetum purpureum I.) 214
    3.3.7.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Pb lên sự sinh trưởng và sự
    tích tụ của chúng ở cỏ Voi lai
    214
    3.3.7.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của Pb và Cd đối với cỏ Voi lai 216
    3.4. Các nghiên cứu khác 218
    3.4.1. Kết quả ứng dụng vi sinh vật để làm tăng hiệu quả xử lý
    KLN của cây
    219
    3.4.1.1. Bố trí thí nghiệm 219
    3.4.1.2. Kết quả và thảo luận 219
    3.4.1.3. Nhận xét 225
    3.4.2. Động thái của Cd, Pb, Zn và As trong đất vùng khai thác mỏ 226
    3.4.2.1. Hàm lượng một số dạng chì trong đất 228
    3.4.2.2. Hàm lượng một số dạng kẽm trong đất ở Đồng hỷ Thái Nguyên 231
    3.4.2.3. Hàm lượng một số dạng Cd trong đất 233
    3.4.2.4. Hàm lượng các dạng asen trong đất nghiên cứu 235
    3.4.2.5. Nhận xét 237
    3.4.3. Nghiên cứu tách dòng môt số gen liên quan đến khả năng
    tích luỹ kim loại nặng
    239
    3.4.3.1. Một số gen mã hóa khả năng tích lũy KLN 239
    3.4.3.2. Nghiên cứu tách dòng môt số gen liên quan đến khả năng tích
    luỹ và phân giải kim loại nặng và phân tích phân tử một số cây
    có khả năng tích luỹ kim loại nặng
    241
    3.4.3.3 Nhận xét 247
    3.5. Quy trình công nghệ xử lý một số KLN trong đất mỏ 248
    3.5.1. Quy trình xử lý đất ô nhiễm As bằng công nghệ trồng cây
    Dương xi
    248
    3.5.1.1. Nhận biết môi trường đất nhiễm As 248
    3.5.1.2. Xác định các thông số chính của môi trường 248
    3.5.1.3. Cải tạo đất để có thể trồng cây 248
    3.5.1.4. Biện pháp làm tăng hấp thu kim loại 249
    3.5.1.5. Cây giống sử dụng cho quy trình 249
    3.5.1.6. Nhân giống 249
    3.5.1.7. Trồng và chăm sóc 249
    3.5.1.8. Thu hoạch 250
    3.5.1.9. Xử lý sinh khối sau thu hoạch 250
    3.5.1.10. Tính toán giá thành và thời gian cần thiết để làm sạch 250
    3.5.1.11. Phạm vi áp dụng, những giới hạn 251
    3.5.1.12. Những nghiên cứu cần thiết bổ sung 251 3.5.1.13. Đề xuất quy trình 252
    3.5.2. Quy trình xử lý đất nhiễm Pb bằng thực vật 253
    3.5.2.1. Nhận biết môi trường đất nhiễm Pb 253
    3.5.2.2. Xác định các thông số môi trường 253
    3.5.2.3. Cải tạo đất 253
    3.5.2.4. Cây lựa chọn cho xử lý 254
    3.5.2.5. Trồng và chăm bón 254
    3.5.2.6. Thu hoạch 255
    3.5.2.7. Xử lý sinh khối 255
    3.5.2.8. Tính toán giá thành và thời gian cần thiết để làm sạch 255
    3.5.2.9. Tính toán giá thành cho 1 năm xử lý 256
    3.5.2.10. Phạm vi áp dụng, giới hạn 256
    3.5.2.11. Những nghiên cứu cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả xử lý 257
    3.5.2.12. Quy trình xử lý 257
    3.5.3. Quy trình xử lý đất ô nhiễm Zn và Cd bằng công nghệ sử
    dụng cây Mần trầu
    258
    3.5.3.1. Nhận biết đất ô nhiễm Cd và Zn 258
    3.5.3.2. Xác định các thông số chính của môi trường 258
    3.5.3.3. Cải tạo đất để có thể trồng cây 258
    3.5.3.4. Cây giống sử dụng cho quy trình 258
    3.5.3.5. Trồng và chăm sóc 259
    3.5.3.6. Thu hoạch 259
    3.5.3.7. Xử lý sinh khối sau thu hoạch 260
    3.5.3.8. Tính toán giá thành 261
    3.5.3.9. Phạm vi áp dụng, những giới hạn 261
    3.5.3.10. Những nghiên cứu cần thiết bổ sung 262
    3.5.3.11. Đề xuất quy trình 262
    3.5.4. Xây dựng mô hình trình diễn sử dụng thực vật để xử lý ô
    nhiễm
    263
    3.5.4.1. Mô tả hiện trạng các địa điểm xây dựng mô hình trình diễn 265
    3.5.4.2. Xây dựng mô hình trình diễn sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm
    kim loại nặng
    268
    3.5.4.3. Xây dựng tiêu chí cho một mô hình điểm và khả năng chuyển
    giao công nghệ
    270
    3.5.5. Phương pháp xử lý sinh khối thực vật sau qui trình 272
    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 274
    TÀI LIỆU THAM KHẢO 278
    PHỤ LỤC 284
    1
    MỞ ĐẦU

    Một trong những vấn đề hiện hữu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới hiện
    nay, gây ra bởi các hoạt động công nghiệp và phi công nghiệp của con người là vấn đề
    ô nhiễm đất. Hàng ngày, các chất thải được và chưa được kiểm soát từ các quá trình
    như khai mỏ, luyện kim hay việc sử dụng bùn thải trên đất nông nghiệp là nguyên nhân
    chính gây ô nhiễm ở những khu vực trước đây chưa hề bị ô nhiễm, từ đó gây ra nhiều
    ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đối với hệ sinh thái. Các chất ô nhiễm này có thể là
    kim loại nặng (KLN), các hợp chất dễ cháy, rác thải nguy hại, chất nổ hay xăng, dầu,
    Trong đó, KLN là chất gây ô nhiễm nguy hại hàng đầu bởi chúng không dễ dàng bị
    sinh vật phân giải mà cần có biện pháp xử lý thích hợp như cố định hay di dời vật lý.
    Một số kim loại nặng như Zn, Fe, Cu, Mn, Mo, B, .rất cần cho sinh trưởng và phát
    triển của thực vật, là những nguyên tố dinh dưỡng vi lượng cần thiết không thể thiếu
    trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật. Song khi ở nồng độ quá cao hoặc
    quá thấp thì đều bất lợi cho cơ thể sinh vật. Có thể nói rằng phần lớn kim loại nặng đều
    là những nguyên tố có tính độc cao đối với cơ thể sống. Ngoài ra, KLN còn gây ra
    nhiều biến đổi ở tế bào sắc tố và làm rối loạn chức năng của chúng. Vì vậy, KLN làm
    môi trường đất trở nên không bền vững đối với sự phát triển của thực vật và làm giảm
    đa dạng sinh học.
    Vấn đề ô nhiễm môi trường bởi các kim loại nặng độc hại là vấn đề lớn ở nhiều
    nước trên thế giới. Nó đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới
    bởi những tác hại nguy hiểm đến sinh vật nói chung và con người nói riêng. Những
    năm đầu 1970 ở một huyện của Nhật Bản, hàng loạt người bị bệnh “Itai Itai” gây đau
    xương, biến dạng xương và dẫn đến chết do ăn phải gạo chứa Cd ở mức 0,5-1 mg.kg -1 .
    Nguyên nhân chính là vì nước sông bị ô nhiễm Cd lại được dùng tưới cho các ruộng
    lúa [24]. Gần đây hàng nghìn người ở tỉnh Tak (Thái Lan) có nguy cơ bị nhiễm những
    căn bệnh do tích tụ cao Cd trong cơ thể như loãng xương, tổn hại thận. Nguyên nhân vì
    đất và nước vùng này bị ô nhiễm Cd do các hoạt động khai thác Zn dẫn đến gạo có
    hàm lượng Cd cao từ 0,1- 44 mg/kg (tiêu chuẩn châu Âu là 0,043 mg/kg), lượng Cd
    trong tỏi và đậu nành cũng cao hơn tiêu chuẩn từ 12 đến 126 lần [58]
    Môi trường bị ô nhiễm do các hoạt động khai khoáng và tuyển quặng đã được
    nhiều nhà khoa học trên thế giới đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Nhiều tác giả đã chỉ ra
    những rủi ro có thể xảy ra đối với con người cũng như mức độ tích tụ các kim loại độc
    hại trong các sản phẩm nông nghiệp quan trọng như lúa gạo [58,62,63]. Tuy nhiên, cho
    đến nay ở Việt Nam chưa có công trình nào có số liệu hoàn chỉnh về mức độ nhiễm
    kim loại nặng ở một vùng mỏ nào. Kết quả thăm dò địa chất đã phát hiện được khoảng
    5000 mỏ và điểm quặng, khoảng 1000 mỏ đã và đang được tổ chức khai thác. Riêng 2
    diện tích chiếm đất đối với một số mỏ khoáng sản kim loại đã ngừng khai thác lên tới
    3749 ha [38]. Số lượng mỏ đang hoạt động trên cả nước là gần 900, trong đó mỏ
    khoáng sản kim loại là 90. Chỉ tính riêng diện tích đất đã sử dụng trong khai thác thiếc
    là trên 300ha, trong khi đó diện tích được hoàn thổ chỉ là 55,8 ha, chiếm gần 20%. Tuy
    nhiên đất đã được hoàn thổ thì chất lượng kém chưa đáp ứng cho việc canh tác. Như
    kết quả phân tích đất trồng ở khu vực mỏ thiếc Sơn Dương, Tuyên Quang có hàm
    lượng As là 642mg/kg và Cu là 235mg/kg [15], trong khi tiêu chuẩn đặt ra tương ứng
    là 12 mg/kg và 50mg/kg (QCVN 03:2008/BTNMT). Trước đó, Nguyễn Văn Bình và
    cs. [40] khi nghiên cứu sự phân bố của kim loại nặng As, Pb, Bi, Sn, Cu, Cd, Fe, W
    trong khu vực mỏ thiếc đang khai thác tại Sơn Dương, Tuyên Quang đã xác định sự có
    mặt của các kim loại này trong các mẫu đất, nước, bùn thải ven suối cao hơn tiêu chuẩn
    cho phép và là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
    Nguồn gốc và sự xuất hiện các nguy hại do mỏ gây ra cũng rất phức tạp và kinh
    phí cho sự phục hồi là rất đắt. Vì vậy, giải quyết vấn đề này hiện nay còn gặp rất nhiều
    khó khăn [9]. Các phương pháp công nghệ xử lý truyền thống bao gồm bê tông hoá, ổn
    định, rửa đất, sử dụng các phản ứng ô xy hoá - khử, phản ứng hấp phụ ở nhiệt độ thấp,
    chôn lấp, đốt, . [46,51,53]. Hiện nay, trên thế giới công nghệ được dùng nhiều nhất để
    xử lý đất bị ô nhiễm kim loại vẫn là chôn lấp tại chỗ bằng cách xây các đập chắn xung
    quanh và sử dụng các hoá chất cố định kim loại đối với các khu vực xa dân cư và đất
    canh tác, còn gần những khu vực này thì đất ô nhiễm phải được đào đi và vận chuyển
    đến nơi chôn lấp tập trung. Công nghệ chôn lấp đòi hỏi chi phí lớn vì bên cạnh chi phí
    cho vận chuyển, còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kiên cố để cho chất ô nhiễm không bị
    rò rỉ cũng như phát tán sang các khu vực lân cận. Ngoài ra, khi áp dụng công nghệ này
    cần có diện tích lớn và điều hạn chế nhất là bằng cách này đất không được tái sử dụng.
    Tính toán sơ bộ cho thấy, vào những năm 90 của thế kỉ 20 chỉ tính riêng ở Mỹ để làm
    sạch ô nhiễm các chất độc hại bằng công nghệ trên cần ít nhất là 400 tỷ đô la. Giá
    thành quá cao trong xử lý ô nhiễm bằng công nghệ truyền thống đã buộc các nhà khoa
    học phải tìm các công nghệ mới thay thế, trong đó công nghệ “xanh” tức là công nghệ
    sử dụng thực vật trong xử lý ô nhiễm (Phytoremediation) đã được đánh giá là có hiệu
    quả ứng dụng cao do giá thành thấp, vận hành đơn giản và thân thiện với môi trường.
    Hiện tại công nghệ sử dụng thực vật được đánh giá là thích hợp nhất cho xử lý ô nhiễm
    KLN trong đất [30,44,57,]. Tính toán cho thấy việc sử dụng thực vật để làm sạch 1
    mẫu Anh (0,4ha) đất bùn cát ở độ sâu 50 cm cần 60 - 100.000 USD, trong khi xử lý
    bằng phương pháp truyền thống (đào hố và cách li) thì cần ít nhất 400.000 USD [44].
    Do các phương pháp lý – hoá học để xử lý ô nhiễm đất mà thế giới áp dụng rất
    khó khả thi ở nước ta vì giá thành quá cao. Sử dụng thực vật để xử lý môi trường đất bị
    ô nhiễm tại các vùng khai thác khoáng sản là một giải pháp hàng đầu đối với điều kiện 3
    của Việt Nam hiện nay. Đây là hướng đi bền vững, lâu dài và hiệu quả đối với việc bảo
    vệ môi trường của các vùng đã, đang khai thác - chế biến quặng. Đề tài cấp Nhà Nước
    KC08.04/06-10 “Nghiên cứu sử dụng thực vật để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại
    nặng tại các vùng khai thác khoáng sản” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất rõ ràng
    khi nghiên cứu, ứng dụng một công nghệ xử lý đất hiệu quả trong điều kiện của Việt
    Nam. Đề tài đã góp phần quan trọng vào lĩnh vực phát triển bộ môn khoa học sử dụng
    thực vật để xử lý ô nhiễm (Phytoremediation) mới được triển khai mạnh trên thế giới.
    Trong 03 năm qua đề tài đã thực hiện được một số nội dung chính sau:
    1. Điều tra, khảo sát và đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường đất và khu hệ thực
    vật ở 04 vùng đã và đang khai thác mỏ đặc trưng thuộc tỉnh Thái Nguyên (mỏ than núi
    Hồng và mỏ thiếc Núi Pháo thuộc huyện Đại Từ, mỏ sắt Trại Cau và mỏ chì kẽm Làng
    Hích thuộc huyện Đồng Hỷ)
    2. Lập danh lục các loài thực vật ở Việt Nam và tại khu vực nghiên cứu có khả
    năng tích luỹ cao kim loại nặng (chú trọng đặc biệt tới As, Pb, Zn và Cd)
    3. Xây dựng quy trình phục hồi môi trường đất nhiễm kim loại nặng As, Cd, Pb và
    Zn.
    4. Xây dựng 2 mô hình trình diễn sử dụng thực vật để xử lý đất bị ô nhiễm kim loại
    nặng tại Hà Thượng, Đại Từ, Thái Nguyên và Tân Long, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.













    4
    CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    1.1. Ảnh hưởng của kim loại nặng đến sức khoẻ con người và môi trường
    Hiện nay, một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất là ô nhiễm môi trường
    đất. Như đã biết, đất là một tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất ra sản phẩm
    cây trồng phục vụ đời sống loài người. Đất là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi
    sống con người, là nơi định cư, nơi cung cấp và nơi chứa đựng rác thải của con người.
    Mặt khác, không giống môi trường nước và không khí, đất là một hệ sinh thái rất phức
    tạp. Chính vì thế, để nhận biết sớm sự ô nhiễm môi trường đất không phải là vấn đề
    đơn giản và càng khó khăn hơn là việc khắc phục ô nhiễm môi trường đất. Đây là một
    trong những nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên đất, một trong những khó khăn mà
    nền nông nghiệp của mỗi quốc gia nói riêng và của thế giới nói chung đang đối mặt.
    Không chỉ thế, môi trường đất bị ô nhiễm sẽ gây ảnh hưởng tới môi trường nước và
    không khí. Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới vấn đề ô nhiễm môi trường đất vẫn chưa
    được quan tâm nhiều [26].
    Việt Nam là một nước nông nghiệp, nên đất canh tác nông nghiệp có vai trò hết
    sức quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Vấn đề ô nhiễm đất là một thử thách lớn
    đối với chúng ta. Một trong những vấn đề ô nhiễm cần quan tâm là ô nhiễm kim loại
    nặng. Khi đất bị nhiễm kim loại nặng, nó sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng và
    theo chuỗi thức ăn đi vào cơ thể động vật. Nhiều kim loại nặng là các vi lượng rất cần
    thiết cho cơ thể con người. Tuy nhiên sự có mặt của chúng với hàm lượng lớn có thể
    gây ô nhiễm môi trường và có tác hại xấu đến sức khoẻ con người cũng như các sinh
    vật. Các kim loại nặng có thể thâm nhập vào môi trường bằng nhiều con đường khác
    nhau, trong đó các hoạt động của con người đóng vai trò rất quan trọng. Khi thâm nhập
    vào môi trường chúng có thể gây ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm đất trồng. Điều đáng
    nói là nhiều kim loại nặng có khả năng tích tụ trong đất, trong động, thực vật và rất khó
    phân giải hay đào thải. Điều đó có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ con người khi sử dụng
    nguồn thức ăn từ những động, thực vật sinh trưởng trong những vùng bị ô nhiễm.
    Một số kim loại nặng như Zn, Fe, Cu, Mn, Mo, B, .rất cần cho sinh trưởng và
    phát triển của thực vật, là những nguyên tố dinh dưỡng vi lượng cần thiết không thể
    thiếu trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật. Song khi ở nồng độ quá
    cao hoặc quá thấp thì đều bất lợi cho cơ thể sinh vật. Có thể nói rằng phần lớn kim loại
    nặng đều là những nguyên tố có tính độc cao đối với cơ thể sống.
    Nhìn chung kim loại nặng phát thải vào môi trường đất qua hai con đường chủ
    yếu sau: 5
    - Các nguồn tự nhiên như các hoạt động của núi lửa, sự phong hoá của đá mẹ và
    khoáng vật.
    - Các nguồn nhân tạo như hoạt động công nghiệp, khai khoáng, giao thông, .

    Hình 1.1. Nguồn gốc kim loại trong đất
    Cho đến nay, nói đến kim loại nặng là người ta nghĩ đến những nguyên tố có
    liên quan tới các tính chất không tốt trong một lĩnh vực nào đó, thậm chí bao gồm cả
    nhôm (Al) với mật độ phân tử chỉ là 2,7 kg. dm -3 và As có mật độ phân tử là 5,7 kg.
    dm -3 nhưng nó không phải là kim loại mà là á kim [5]. Thuật ngữ “kim loại nặng” dùng
    ở đây chủ yếu đề cập đến những kim loại và á kim có liên quan đến vấn đề ô nhiễm
    môi trường và có độc tính cao đối với cơ thể sống, như là Cd, Cu, Cr, Hg, Ni, Pb, Zn
    và As. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào các kim loại là As, Pb, Cd và Zn
    vì theo khảo sát, đánh giá hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng tại một số vùng khai thác
    mỏ đặc trưng của Thái Nguyên thì đây là những nguyên tố vượt qua tiêu chuẩn cho
    phép nhiều lần ở trong đất.
    Asen (As) được sử dụng làm chất mầu, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc bảo quản
    gỗ và chất kích thích sinh trưởng cho gia súc, gia cầm. Asen có trong nhiều loại mỏ
    khoáng sunphit và vì vậy có thể phát tán vào không khí từ các lò luyện kim. Than đá
    cũng chứa một lượng đáng kể As và quá trình đốt than đã phát tán tới 20% lượng chất
    này có trong khí quyển. Tàn than là nguồn As đáng kể thẩm thấu vào đất và nước. Hiệu
    ứng gây độc cấp tính và trường diễn của As đã được nhận biết và nhiều người đã bị
    ung thư đường hô hấp do tiếp xúc lâu ngày với hơi As [14,40]. As tồn tại ở bốn dạng 6
    As 3- , As, As 3+ và As 5+ . Phần lớn các chất vô cơ chứa asen độc hơn các chất hữu cơ.
    Các hợp chất vô cơ chứa As là arsine, arsenite và arsenate.
    Tích tụ As trong đất là một trong các nguồn chính làm tăng nguy cơ ô nhiễm
    nước mặt và nước ngầm, sự hấp thu do thực vật là sự hấp thu trực tiếp hay gián tiếp đối
    với con người. Vì vậy, làm sạch các vị trí ô nhiễm là vấn đề trở nên cấp bách. Ô nhiễm
    As không chỉ do hoạt động tự nhiên mà còn do hoạt động của con người đặc biệt là quá
    trình khai khoáng. Hàng năm, sự phát thải toàn cầu của As là 808.10 7 g trong đó có
    28.10 7 g là do con người thải ra và 780.10 7 g là do nguồn nhân tạo. Tại Anh đất ở nhiều
    vùng khai thác khoáng sản bị nhiễm KLN trong đó có As. Trong khi hàm lượng As
    trung bình trong đất là 10,4 mg/kg thì trong đất của mỏ chì Cumbria, mỏ đồng Devon
    và mỏ thiếc Cornwall hàm lượng As tương ứng như sau: 127,7-366,8; 280,7-2331,6; và
    87,5-1246,8 mg/kg. Hàm lượng này cao hơn mức bình thường từ hàng chục đến hàng
    trăm lần [28].
    Ở Việt Nam, theo tác giả Ngô Văn Ái và cộng sự có 3 vùng ô nhiễm As bao
    gồm: thứ nhất là vùng núi với các biến đổi đá nhiệt dịch, quặng vàng, đa kim, sunfua,
    và vỏ phong hóa cũng như đất phát triển trên chúng, thứ hai là vùng đồng bằng với
    nguồn ô nhiễm As là quá trình tự nhiên (oxy hóa khoáng vật sunfua và khoáng vật
    chứa As trong trầm tích, khử các hydroxit sắt chứa As) và hoạt động nhân sinh. Vùng
    thứ ba là đới duyên hải (trầm tích ven bờ một số vùng ở Quảng Ngãi, Phú Yên), vùng
    này có nguồn ô nhiễm là do hoạt động nhân sinh, đặc biệt là sử dụng thuốc trừ sâu, diệt
    cỏ, vũ khí hóa học.
    1.1.1. Ảnh hưởng của As đến sức khỏe con người
    Asen (thạch tín) là một trong những chất có độ độc rất cao. Độc tính của thạch
    tín phụ thuộc vào công thức hóa học của nó. Trong nước ngầm thạch tín được tìm thấy
    chủ yếu ở dạng Asenit (Asen III) hoặc Asenat (Asen V). Asenit có thể được ôxy hóa và
    Asenat có thể quay lại Asenit khi nước ngầm thiếu ôxy. Nếu không tính đến một số
    hợp chất hiếm có của As thì hợp chất độc nhất của As là Asin-AsH 3
    (hợp chất này có
    liều gây chết LD 50 với chuột là 3 mg/kg), sau đó đến Asenit (liều gây chết LD 50 với
    chuột là 20-60 mg/kg) và Asenat trong đó Asenit có độc tính gấp 60 lần so với Asenat
    do nó có phản ứng với các enzim trong quá trình chuyển hóa ở cơ thể người. Đến nay
    có thể kết luận chắc chắn về các bệnh do nhiễm Asen như: Sừng hóa da, hắc tố da và
    mất sắc tố da, bệnh Bowen, bệnh đen và rụng móng chân. Bệnh sừng hóa da thường
    xuất hiện ở tay, chân, lòng bàn tay, gan bàn chân – phần cơ thể cọ xát nhiều hoặc tiếp
    xúc ánh sáng nhiều lâu ngày sẽ tạo thành các đinh cứng màu trắng gây loang rộng gây
    đau đớn. Bệnh hắc tố da và mất sắc tố da bị đen sạm, da bị lốm đốm trắng dẫn đến tế
    bào bị phá hủy và làm hỏng da. Biểu hiện đầu tiên của bệnh Bowen là một phần cơ thể 7
    đỏ ửng, sau đó bị chảy nước và lở loét. Bệnh đen và rụng móng chân có thể dẫn đến
    hoại tử, rụng dần từng đốt ngón chân. Sau 15-20 năm kể từ khi phát hiện, người nhiễm
    độc As sẽ chuyển sang ung thư và chết.

    Hình 1.2. Hình ảnh một số bệnh nhân bị nhiễm độc Asen [62]
    1.1.2. Ảnh hưởng của Pb đến sức khỏe con người
    Chì (Pb) là kim loại nặng được nghiên cứu rất kĩ về độc tố. Hàng năm,
    thế giới sử dụng khoảng 3 triệu tấn chì [84]. Các loại hình công nghiệp mỏ và chế biến
    khoáng chất, sản xuất kim loại màu, pin, acquy, công nghiệp gia công kim loại là
    nguồn gây ô nhiễm chì chủ yếu. Hàng năm, trong 2 triệu tấn Pb con người thải vào môi
    trường có 61% là do đốt cháy nhiên liệu động cơ [68]. Ở Manila (Philippin) nồng độ
    Pb trong không khí vượt trên 400% mức cho phép của Tổ chức Y tế thế giới [94]. Ở
    Mỹ, thế kỷ 20 qua đi để lại trên 43.000 vùng công nghiệp trọng điểm trong tình trạng ô
    nhiễm trong đó trên 40% là ô nhiễm KLN như chì, cadimi, crôm, asen. Mỗi năm ngân
    sách nước Mỹ phải tốn 1,5 tỷ USD cho việc xử lý và ngăn chặn ô nhiễm [42]. Tại châu
    Âu, năm 1999, có ít nhất 50 khu vực bị ô nhiễm KLN như: kẽm, đồng, chì, [59].
    Ô nhiễm đất tại Nga cũng là một vấn đề rất nghiêm trọng. Tại 120 thành phố
    của đất nước này có nồng độ chì cao trong đất. Ở các thành phố có các ngành công
    nghiệp luyện kim, nồng độ chì trong đất dao động trong khoảng từ 1000-2000 mg/kg.
    Mặc dù đất trồng trọt ở đây ít bị ô nhiễm chì, tuy nhiên lượng chì dọc theo đường giao
    thông gần với khu dân cư lại cực kì nguy hiểm [63]. Mỗi năm đất nước này thải ra
    4000 tấn chì. Nguồn ô nhiễm chì chính là do khói bụi thải ra từ động cơ xe. Một nguồn
    ổn định khác nữa là từ các ngành công nghiệp kim loại không sử dụng sắt bao gồm cả
    các lò nấu chảy chì, đồng và các nguồn thải do sản xuất pin. Các nhà máy sản xuất
    thủy tinh và ceramic cũng đóng góp một lượng ô nhiễm chì nhất định.
    Chì tương đối sẵn trong môi trường tự nhiên dưới dạng kim loại hơn bất kỳ
    kim loại nặng nào khác. Nguồn chì quan trọng trong khí quyển là do khí xả của động
    cơ đốt trong dùng xăng hay dầu có pha chì. Bụi thành phố, đô thị, đường xá cao tốc rất
    giầu chì. Nồng độ chì ở các phố buôn bán sầm uất có thể đến 1 - 4 gam/kg bụi. 8
    Hiệu ứng hoá sinh quan trọng của chì là can thiệp vào việc tổng hợp hemoglobin
    dẫn đến các bệnh về máu. Chì ức chế nhiều loại men then chốt liên quan đến quá trình
    tổng hợp hemoglobin nên làm cho các sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi chất
    bị tích luỹ lại. Một trong các sản phẩm trung gian đó là axit delta levulinic. Một pha
    quan trọng của việc tổng hợp hemoglobin là chuyển hoá chất delta amino levulinic
    thành pocphobilinogen. Chì ức chế men amino levulinic dehydraza nên không thể
    chuyển hoá axit delta amino levulinic thành pocphobilinogen. Cuối cùng chì ngăn cản
    việc dùng oxy và gluco vào việc sản xuất năng lượng để duy trì cuộc sống. Khi chì
    trong máu vượt quá 0,3 ppm sẽ thấy triệu chứng thiếu máu do thiếu hemoglobin. Khi
    chì nhiều hơn (0,5 - 0,8 ppm) chức năng thận bị rối loạn và cuối cùng ảnh hưởng đến
    thần kinh.
    Do chì và canxi giống nhau về mặt hoá học nên chì có thể đổi chỗ cho canxi nằm
    lại trong cơ thể, sau này chì này lại có thể theo lân từ xương ra gây độc cho các mô
    mềm. Chì là một kim loại có khả năng tích luỹ cao. Nó có khuynh hướng tích luỹ trong đất và
    trầm tích. Con người tiếp xúc với chì thông qua nhiều con đường như không khí, thực phẩm, .
    Người ta chống ngộ độc chì bằng cách xử lý với các tác nhân tạo được chelat với chì;
    cho nạn nhân ngộ độc chì uống dung dịch chelat canxi để Ca ++ đổi chỗ cho Pb ++ . Pb ++
    bị tống ra ngoài sẽ được thải ra theo nước giải.
    Chì là một KLN có tính độc cao. Sau khi vào cơ thể người lớn 94% lượng chì tích tụ
    trong xương, ở trẻ em do xương kém đậm đặc nên 64% lượng chì trong xương còn lại vào
    máu và thận. Đầu tiên chì gây rối loạn tiêu hoá, nôn, tiêu chảy, đau bụng từng cơn dữ dội, làm
    giảm lượng hồng cầu do can thiệp vào quá trình tổng hợp hemoglobin, giảm máu đến
    thận gây tiểu đạm, tiểu máu, suy thận [68].
    Nồng độ chì cao gây phù não, phá huỷ tế bào não. Biểu hiện: người bị kích thích,
    co giật, hôn mê và tử vong. Nếu sống sót cũng bị di chứng thần kinh không phục hồi
    được. Ngoài ra, nó còn làm ngừng sự phát triển của xương và tạo đường viền đen ở
    chân răng. Trẻ em dễ bị ngộ độc chì hơn người lớn. Với nồng độ chì trong máu

    g/dl, quá trình chuyển hoá tế bào não ở trẻ sẽ bị cản trở làm gián đoạn dẫn truyền
    thông tin giữa tế bào thần kinh với các tế bào khác. Cứ tăng 10-20
    µ
    g/dl chì trong máu
    thì chỉ số IQ giảm 2-5 điểm. Khi nồng độ chì trong máu lên tới 100-120
    µ
    g/dl (người
    lớn); 80-100
    µ
    g/dl (trẻ em) thì dẫn đến tử vong. Thời gian bán huỷ để thải chì ra khỏi
    thận là 7 năm, khỏi xương là 32 năm do đó tác hại của chì thường kéo dài [76].
    Do tính độc của chì nên đã dẫn đến những thảm cảnh hết sức đau buồn. Trong
    10 thành phố ô nhiễm nhất thế giới năm 2006, đứng đầu là các thành phố khai thác và chế
    biến chì như thành phố Kabwe (Zambia), khu khai thác mỏ và luyện kim, mức độ chì
    trung bình trong máu của trẻ cao gấp 5-10 lần mức cho phép của Mỹ. Ở đây tuổi thọ rất
    thấp, trẻ sơ sinh bị khuyết tật, tỷ lệ hen ở trẻ là 90% và nhiều bé chậm phát triển trí tuệ
    [86]. Tại Rudnaya Pristan của Nga, nồng độ chì trong máu của trẻ em cao hơn gấp 20
    lần so với giới hạn tiêu chuẩn cho phép của Mỹ [82]. 9
    Tại làng tái chế chì Chỉ Đạo (Văn Lâm, Hưng Yên), 100% số người trực tiếp nấu
    chì bị nhiễm chì trong máu, 50% số người bị đau dạ dày, tá tràng, đau mắt, đường ruột, 43
    người bị tàn tật (trong đó có 25 trẻ em bị mù mắt, thọt chân, cụt tay, ngớ ngẩn) [5].


    Hình 1.3. Hình ảnh bệnh nhân bị nhiễm độc Chì [58]
    1.1.3. Ảnh hưởng của Cd đến sức khỏe con người
    Cũng như chì và thuỷ ngân, cadimi (Cd) rất độc đối với người và môi trường.
    Sử dụng cadimi có xu hướng tăng dần trong công nghiệp mạ điện, sơn, sản xuất chất
    dẻo, sản xuất pin Ag-Cd. Mỗi năm thế giới sản xuất khoảng 20.000 tấn cadimi [59].
    Cadimi có xu hướng tích luỹ trong cơ thể người, 33% trong thận và 14 % trong gan.
    Cadimi là một trong rất ít nguyên tố không cần thiết cho cơ thể con người.
    Nguyên tố này và dung dịch các hợp chất của nó là những chất cực độc thậm chí chỉ
    với nồng độ rất thấp và được tích lũy sinh học trong cơ thể cũng như trong các hệ sinh
    thái. Cd khi vào cơ thể và tác động đến thận đầu tiên. Thường xuyên tiếp xúc với Cd
    (200
    µ
    g/ngày) sẽ dẫn đến suy thận ở những người trên 50 tuổi [75]. Ngoài ra, Cd cũng
    liên quan đến ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú và các bệnh liên quan đến xương như
    bệnh Itai-Itai xuất hiện ở lưu vực sông Jinzu của Nhật Bản. Cd ức chế quá trình cố định
    canxi trong xương làm xương giòn, dễ gẫy [70].
    Hít thở phải bụi có chứa cadimi nhanh chóng dẫn đến các vấn đề đối với hệ hô
    hấp và thận, có thể dẫn đến tử vong (thường là do hỏng thận). Nuốt phải một lượng
    nhỏ cadmi có thể bị ngộ độc tức thì và tổn thương gan và thận. Ngoài tổn thương thận,
    người bệnh còn chịu các chứng loãng xương và nhuyễn xương. Các vấn đề ngộ độc
    nghiêm trọng có thể sinh ra từ phơi nhiễm lâu dài cadimi từ các bể mạ điện bằng
    cadimi. Hút thuốc lá cũng là con đường dẫn đến tích lũy cadimi trong cơ thể 10

    Hình 1.4. Chứng teo thận của bệnh itai itai gây ra do sống trong vùng ô nhiễm Cadimi
    (TL)

    1.1.4. Ảnh hưởng của Kẽm đến sức khỏe con người
    Kẽm (Zn) được sử dụng khá rộng rãi trong công nghiệp chế tạo đồng thau và
    các hợp kim khác. Hàng năm thế giới sản xuất khoảng 7 triệu tấn kẽm. Công nghiệp
    mỏ và chế biến quặng, sản xuất kim loại màu, sản xuất pin và ắc quy, công nghiệp in
    và gia công kim loại thải ra môi trường nhiều kẽm.
    Kẽm là nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể. Kẽm thể hiện vai trò sinh lý ở
    nhiều mặt, có vai trò quan trọng trong quá trình oxi hóa - khử. Nó tham gia vào thành
    phần của nhiều enzim (như dehydrogenaza, proteinaza, peptidaza, photphohydrolaza).
    Theo Lindsay (1972), chức năng cơ bản của Zn trong thực vật liên quan đến sự trao đổi
    chất của protein, hydratcacbon, trao đổi P, tham gia vào quá trình trao đổi vitamin và
    các chất sinh trưởng của thực vật. Kẽm ảnh hưởng đến tính thấm của màng tế bào và
    làm bền vững những thành phần của tế bào nhất là các vi sinh vật. Người ta cho rằng
    sự có mặt của Zn tăng cường sự chống chịu của thực vật trong điều kiện thời tiết khô,
    nóng và bệnh tật do nấm và vi khuẩn gây ra. Các loại thực vật khác nhau thì phản ứng
    khác nhau với sự thiếu hụt Zn. Thiếu Zn sẽ phá vỡ quá trình trao đổi cacbon, kìm hãm
    sự tạo thành đường sacaro, tinh bột và chất diệp lục. Cây sẽ xuất hiện những biến đổi
    về hình thái lá, có dấu hiệu hoại tử. Kẽm rất cần thiết cho các cây lấy hạt, thiếu Zn hạt
    sẽ không được tạo thành.
    Tuy nhiên, nếu hàm lượng Zn cao có thể gây độc cho cây trồng, vật nuôi và cả
    con người. Hàm lượng Zn trong cây thay đổi từ mức thấp nhất 1mg/kg đến mức cao
    nhất 1000 mg/kg đối với đơn vị khối lượng khô. Hàm lượng của Zn trong thực vật 11
    thường từ 20-100 mg/kg, biến động từ 1,2-73 mg/kg trong táo, rau xà lách. Giá trị
    trung bình của Zn trong hạt lúa mì khoảng 22-33 mg/kg chất khô. Trong lúa mạch đen
    chứa rất ít Zn và ít hơn lúa mì. Sự thiếu hụt Zn trong thực vật chỉ xảy ra khi hàm lượng
    Zn là 10-20 mg/kg. Mặc dù vậy, những giá trị này cũng rất biến động vì dấu hiệu thiếu
    Zn của thực vật phụ thuộc vào kiểu gen di truyền và ảnh hưởng của sự phản ứng của
    Zn với các nguyên tố khác trong mô thực vật (Shkolnik, M. J., 1974)
    1.2. Về tình hình ô nhiễm KLN trên thế giới
    Viện nghiên cứu Blacksmith, New York đã bình chọn danh sách 10 thành phố ô
    nhiễm nhất trên thế giới thì có tới 8 thành phố liên quan đến ô nhiễm KLN đó là Lâm
    Phần, Thiên Anh (Trung Quốc); Sukindan, Vapi (Ấn Độ); La Oroya (Peru);
    Dzerzhinsk, Norilsk (Nga); Chernobyl (Ukraine); Sumgayit (Azerbaijan); Kabwe
    (Zambia). Điển hình như Lâm Phần, Tianying (Trung Quốc) là nơi bị ô nhiễm nặng
    KLN [26]. Những kim loại độc đã ngấm vào máu nhiều thế hệ trẻ em ở Tianying và
    làm giảm chỉ số thông minh. Ngay cả lúa mì ở Tianying cũng chứa chì với nồng độ gấp
    24 lần mức cho phép của Trung Quốc. Trung Quốc còn là nước đứng đầu về ô nhiễm
    thủy ngân. Theo kết quả phân tích thủy sản ở 4 hồ nước ngọt và khu vực biển phía
    đông tỉnh Giang Tô, có rất nhiều kim loại khác nhau trong đó thủy ngân, cadimi, crôm,
    kẽm và chì tồn tại trong 41% thủy sản [39,66]. Tại Sukindan, Vapi của Ấn độ, nồng độ
    thủy ngân trong nước ngầm của đô thị này cao gấp 96 lần so với tiêu chuẩn của Tổ
    chức Y tế Thế giới (WHO). La Oroya của Peru đã bị ô nhiễm chì, đồng, kẽm. Đơn cử
    như Norils (Nga) là khu vực tập trung những lò nấu chảy kim loại nặng lớn nhất thế
    giới. Tại đây, có hơn 4 triệu tấn cadimi, đồng, chì, niken, thạch tín, selen và kẽm phát
    thải ra không khí mỗi năm. Các mẫu thử không khí khi nghiên cứu ở vùng này đều có
    mức nhiễm đồng, niken vượt quá chuẩn tối đa cho phép, số người tử vong vì các bệnh
    hô hấp ở mức cao [90]. Nguồn gây nhiễm KLN chủ yếu là từ nguồn thải của các hoạt
    động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và hàng hải. Tại nhiều nơi, các chất thải độc
    hại này bị đổ thẳng ra môi trường mà không hề được xử lý. Xung quanh các khu công
    nghiệp, dòng chảy chất thải chính là con đường đưa và hòa tan KLN vào trong đất.
    Nhiều nước Đông Âu trước đây đã phát triển công nghiệp theo công nghệ cũ và
    sử dụng rất nhiều loại chế phẩm trong nông nghiệp nên nước và đất ở nhiều vùng đã bị
    ô nhiễm kim loại nặng ở mức độ rất cao, cao hơn tiêu chuẩn cho phép 1.000 - 10.000
    lần [93]. Tại Trung Quốc, khoảng 20% đất nông nghiệp bị nhiễm KLN và đã làm mất
    10 triệu tấn hoa màu mỗi năm [57]. Ở Anh, việc xử lý đất bị ô nhiễm kim loại nặng là
    công việc vô cùng khó khăn, ước tính phải mất vài chục năm để xử lí . 12
    Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến ô nhiễm KLN trong đất, đáng kể nhất
    là do sự tích lũy từ chất thải của các ngành công nghiệp có liên quan đến kim loại và
    hoạt động khai thác khoáng sản. Theo số liệu của các cơ quan chức năng Trung Quốc,
    hiện nay nước này có gần 2.000 vạn ha đất canh tác bị ô nhiễm kim loại nặng, chiếm
    gần 20% tổng diện tích đất canh tác, hàng năm thiệt hại tới 1.000 vạn tấn lương thực,
    trực tiếp gây tổn thất kinh tế hơn 10 tỷ NDT.
    Các dạng ô nhiễm môi trường tại các mỏ đã và đang khai thác rất đa dạng như ô
    nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm và là một thực tế đáng báo động. Các tác nhân gây ô
    nhiễm là axít, kim loại nặng, cyanide, các loại khí độc, [9]. Hiện tượng suy giảm
    chất lượng nước mặt, nước ngầm ở nhiều nơi do ô nhiễm các kim loại nặng có nguồn
    gốc công nghiệp như niken, crôm, chì, asen, đồng, selen, thuỷ ngân, cadimi, . là thực
    tế và cần sớm có giải pháp xử lí. Nhiều kim loại nặng rất độc đối với người và môi
    trường cho dù ở nồng độ rất thấp. Môi trường bị ô nhiễm do các hoạt động khai khoáng
    và tuyển quặng đã được các nhà khoa học của Hàn Quốc đặc biệt quan tâm nghiên cứu.
    Các tác giả đã chỉ ra những rủi ro có thể xảy ra đối với con người cũng như mức độ
    tích tụ các kim loại độc hại trong các sản phẩm nông nghiệp quan trọng như lúa gạo
    [58].
    Công đoạn nào của quá trình khai thác khoáng sản cũng gây nên ô nhiễm kim loại
    vào đất, nước, không khí và vào cơ thể sinh vật. Sự nhiễm bẩn kim loại không chỉ xảy
    ra khi mỏ đang hoạt động mà còn tồn tại nhiều năm sau kể từ khi mỏ ngưng hoạt động.
    Theo Lim và cộng sự (2004) tại vùng mỏ vàng-bạc Soncheon đã bỏ hoang ở Hàn
    Quốc, đất và nước nhiều khu vực ở đây vẫn còn bị ô nhiễm một số loại kim loại ở mức
    cao [58]. (Xem bảng 1.1)
    Bảng 1.1. Hàm lượng kim loại nặng (mg/kg) trong một số loại đất ở khu mỏ hoang
    Songcheon
    Nguyên tố Bãi thải quặng Đất vùng núi Đất trang trại
    Đất bình thường
    trên thế giới
    As 3584 - 143813 695 - 3082 7 - 626 6
    Cd 2,2 - 20 1,32 0,75 0,35
    Cu 30 - 749 36 - 89 13 - 673 30
    Pb 125 - 50803 63 - 428 23 - 290 35
    Zn 580 - 7541 115 - 795 63 - 110 90
    Hg 0,09 - 1,01 0,19 - 0,55 0,09 - 4,90 0,06 13
    Theo các tác giả thì bãi thải đuôi quặng ở đây là nguồn điểm gây ô nhiễm các
    kim loại cho đất ở các khu vực xung quanh. Hàm lượng các kim loại cao trong đất
    trang trại là do sự phát tán kim loại bởi gió, bởi nước từ các bãi quặng đuôi. Đa số cây
    trồng ở các khu đất bị nhiễm kim loại đã bị nhiễm As và Zn ở mức cao.
    P.A. Shelmerdine và cs. (2004) cho biết ở nhiều vùng khai thác khoáng sản của
    Anh đất bị nhiễm kim loại nặng ở mức đáng lo ngại (Xem bảng1.2)
    Bảng 1.2. Hàm lượng kim loại nặng (mg/kg) trong đất của một số mỏ tại Anh
    Nguyên
    tố
    Mỏ chì Cumbria
    Mỏ thiếc, đồng
    Cornwall
    Mỏ đồng
    Devon
    Hàm lượng trung
    bình trong đất ở
    Anh (mg/kg)
    As 127,7-366,8 280,7-2331,6 87,5-1246.8 10,4
    Cu 283,5-2637,6 399,7-3588,8 512,6-2696,7 23
    Cd 1,2-69,0 ND-1,7 ND 0,8
    Pb 5704,8-19436,9 37,7-1638,7 53,5-450,6 74
    Zn 794,4-20972,3 190,6-759,2 28,6-515,3 97
    Các nhà khoa học Viện nghiên cứu Địa lý và Tài nguyên thiên nhiên, Viện Hàn
    lâm khoa học Bắc Kinh, Trung Quốc đã phát hiện đất ở nhiều khu vực có chứa As ở
    mức cao như ở vành đai vàng là 1342mg/kg và ở vành đai thuỷ ngân là 509mg/kg [39].
    Nguồn gốc và sự xuất hiện các nguy hại do mỏ gây ra cũng rất phức tạp và giá
    cho sự phục hồi là rất đắt. Vì vậy, giải quyết vấn đề này hiện nay còn gặp rất nhiều khó
    khăn [42].
    1.3. Về tình hình ô nhiễm KLN ở Việt Nam
    Nằm ở khu vực Đông Nam Châu Á, Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên
    khoáng sản phong phú, đa dạng và là nguồn nguyên liệu, tiềm năng quí của quốc gia.
    Tuy vậy, công nghiệp khai khoáng đã làm suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
    suy thoái môi trường, thể hiện ở các vấn đề môi trường đất, nước, không khí, rừng, đa
    dạng sinh học, .Theo đánh giá của các chuyên gia, công nghiệp khai thác mỏ đang gây
    ô nhiễm và suy thoái môi trường đất ở mức độ nghiêm trọng nhất [9, 15].
    Ô nhiễm kim loại nặng trong đất hiện nay tại các mỏ đã và đang khai thác ở
    Việt Nam là một thực tế đáng báo động. Hiện tượng suy giảm chất lượng nước mặt,
    nước ngầm ở nhiều nơi do ô nhiễm các kim loại nặng có nguồn gốc công nghiệp như
    niken, crôm, chì, arsen, đồng, selen, thuỷ ngân, cadimi, . là thực tế và cần sớm có giải 14
    pháp xử lí. Nhiều kim loại nặng rất độc đối với người và môi trường cho dù ở nồng độ
    rất thấp.
    Tác động của các kim loại nặng tới môi trường có thể được chia ra làm 4 nhóm
    như sau:
    1. Làm ô nhiễm nặng nề đất, nước mặt và nước ngầm.
    2. Tác động xấu tới chất lượng hệ thống cống rãnh,
    3. Ảnh hưởng xấu tới quá trình xử lí sinh học,
    4. Độc hại đối hệ động, thực vật và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người thông
    qua chuỗi dinh dưỡng.
    Khi khảo sát một số khu vực trồng rau ở Hà Nội và Hưng Yên, Đặng Thị An và
    cs [3] cho thấy lượng kim loại từ đất xâm nhập vào cây rau phụ thuộc vào rất nhiều
    yếu tố, trong đó phải kể đến tính chất của nền đất, bản chất hoá học của kim loại và bản
    chất sinh học của cây. Rau muống thu từ những nền đất có hàm lượng các kim loại độc
    hại cao luôn chứa các kim loại này ở mức cao có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe
    người tiêu dùng. Trong các đề tài nghiên cứu khác [4,5,6] tác giả đã thu được các số
    liệu hay về sự phân bố của KLN trong các bộ phận của cây, về khả năng chống chịu
    của cây đối với KLN cũng như khả năng sử dụng sinh vật tích tụ KLN để giám sát ô
    nhiễm, .
    Các tác giả trên đã đề xuất biện pháp làm sạch ô nhiễm kim loại trong đất bằng
    cách sử dụng một số cây làm cảnh có khả năng tích tụ một hay vài kim loại độc hại ở
    mức cao như cúc su si, ngũ gia bì, [6].
    Cho đến nay tại Việt Nam kết quả thăm dò địa chất đã phát hiện được khoảng
    5000 mỏ và điểm quặng, khoảng 1000 mỏ đã và đang được tổ chức khai thác. Riêng
    diện tích chiếm đất đối với một số mỏ khoáng sản kim loại đã ngừng khai thác lên tới
    3749 ha [15]. Số lượng mỏ đang hoạt động trên cả nước là gần 900, trong đó mỏ
    khoáng sản kim loại là 90. Chỉ tính riêng diện tích đất đã sử dụng trong khai thác thiếc
    là trên 300ha, trong khi đó diện tích được hoàn thổ chỉ là 55,8 ha, chiếm gần 20%.
    Tuy nhiên, đất đã được hoàn thổ thì chất lượng kém chưa đáp ứng cho việc
    canh tác. Như kết quả phân tích đất trồng lá ở khu vực mỏ thiếc Sơn Dương, Tuyên
    Quang có hàm lượng As là 642mg/kg, Cu là 235mg/kg [12], trong khi tiêu chuẩn đặt ra
    tương ứng là 25 mg/kg và 50mg/kg (TCVN 7209-2002). Trước đó, Nguyễn Văn Bình
    và cs. [15] khi nghiên cứu sự phân bố của kim loại nặng As, Pb, Bi, Sn, Cu, Cd, Fe, W
    trong khu vực mỏ thiếc đang khai thác tại Sơn Dương, Tuyên Quang đã xác định sự có
    mặt của các kim loại này trong các mẫu đất, nước, bùn thải ven suối cao hơn tiêu chuẩn
    cho phép và là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
    Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng ở khu vực khai thác khoáng sản đã được nhắc tới
    nhiều, bởi nó không chỉ gây tác hại ở một khu vực mà có thể lan rộng sang các vùng
    khác. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào có số liệu hoàn chỉnh về mức độ
    nhiễm kim loại nặng ở một vùng mỏ nào. Các số liệu về đất ô nhiễm kim loại nặng đã
    xuất hiện lẻ tẻ và tập trung vào khu vực làng nghề và các khu chịu ảnh hưởng của công 15
    nghiệp hoá chất, sơn, song cũng chỉ có thể dùng để tham khảo vì nhìn chung độ tin
    cậy chưa cao.
    Theo UBND tỉnh Thái Nguyên [21], hiện Thái Nguyên đã phát hiện và đánh giá
    177 điểm quặng và mỏ bao gồm đá vôi, đất sét, than đá, quặng sắt, đá đônomit, quặng
    titan, volfram, quặng chì, thiếc vàng. Một số địa điểm tập trung là Đại Từ, Đồng Hỷ,
    Phú Lương và Võ Nhai. Đến tháng 9/2004 có 45 điểm đã đưa vào khai thác quy mô
    công nghiệp. Mặc dù đem lại nhiều lợi ích kinh tế nhưng do công nghệ lạc hậu, không
    có hệ thống xử lý hoặc chỉ xử lý sơ bộ nên việc khai thác mỏ đã gây ô nhiễm môi
    trường nghiêm trọng bởi kim loại nặng trong đó có môi trường đất, nước.
    Tại huyện Đại Từ các hoạt động khai thác thủ công tại địa phương đã tạo ra một
    lượng đáng kể các chất thải quặng đuôi và đá thải. Quặng thiếc (caxiterit) trong các
    mạch trải rộng trong khu vực cũng chứa một lượng sunfua phong phú, mà chủ yếu là
    arsenopirrit- nguồn gây ô nhiễm asen vào hệ sinh thái địa phương. Đá thải tạo axít đã
    được sử dụng để làm vật liệu đắp đường và nền nhà của người dân địa phương. Các đá
    này hiện đang rò rỉ kim loại như arsen lên trên bề mặt và vào các nguồn nước ngầm và
    sẽ tiếp tục là vấn đề môi trường nan giải trừ khi có một biện pháp khắc phục được tiến
    hành. Kết quả phân tích một số mẫu đá thải cho thấy hàm lượng As trung bình đạt tới
    5000 mg/kg, vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng các KLN khác trong mẫu
    cũng rất cao (Cu- 1260 mg/kg; Pb- 105 mg/kg; Cd- 0,5 mg/kg; Se- 17 mg/kg, .) [21].
    Hàm lượng trong nước ngầm tại khu vực này từ 0,068 – 0,109mg/l vượt tiêu
    chuẩn cho phép từ 1,7 – 8,2 lần. Nhiều khu vực nước ngầm có nồng độ pH thấp dưới
    mức tiêu chuẩn cho phép và có biểu hiện ô nhiễm Fe, Mn . Kết quả nghiên cứu về sức
    khỏe sinh sản của phụ nữ sống quanh khu vực Công ty Luyện kim màu Thái Nguyên
    cho thấy đối tượng có hàm lượng chì và asen trong máu cao dẫn tới nguy cơ sẩy thai
    gấp 1,8 lần, thai chết lưu gấp 4,3 lần so với bình thường [21].
    1.4. Các phương pháp xử lý kim loại nặng trong đất

    Việc xử lý đất chứa KLN hết sức phức tạp và thường không triệt để do tính
    chất của đất bị thay đổi khi liên kết với KLN. Có nhiều phương pháp xử lý đất như:
    cơ học, vật lý, hoá học, sinh học Tuỳ thuộc vào đặc điểm tính chất của từng loại đất
    mà chọn phương pháp cho phù hợp như: rửa đất, bê tông hoá, đào đất bị ô nhiễm
    chuyển đến nơi chôn lấp thích hợp, kết tủa hoá học, ôxy hoá khử, phản hấp phụ ở
    nhiệt độ thấp, xử lý nhiệt, trao đổi ion, bốc hơi [46].
    1.4.1. Phương pháp cơ học
    Trên thực tế, phương pháp này không có khả năng loại bỏ hoàn toàn KLN. Tuy
    nhiên, nó làm hạn chế khả năng thấm ngấm của KLN vào hệ thống nước ngầm.
    Phương pháp chôn lấp tại chỗ được đánh giá là an toàn nhất bằng cách xây đập bê tông
    chặn xung quanh. Đối với khu vực gần dân cư và đất canh tác thì đất ô nhiễm phải
    được đào và vận chuyển đến nơi chôn lấp tập trung. Phương pháp này có nhược điểm 16
    là không những chi phí cao (400.000 USD/0,4 ha), cần diện tích lớn, đất không được
    tái sử dụng mà nó còn gây nguy hiểm trong suốt quá trình vận chuyển [44].
    1.4.2. Phương pháp vật lý và hoá học
    Nhóm phương pháp này đang được sử dụng rộng rãi trong việc kiểm soát và
    làm giảm bớt mức độ ô nhiễm KLN trong đất. Các phương pháp thường dùng là:
    - Điện động học liên quan đến sự di chuyển KLN thông qua một điện trường
    được phát sinh từ các điện cực trong đất. Kỹ thuật này có hiệu quả xử lý đất sét bị ô
    nhiễm KLN: Pb, Cr, Cu, Zn và thường kết hợp với phương pháp sinh học.
    - Rửa đất: Phương pháp này được dùng phổ biến ở Đan Mạch, Đức, Hà Lan
    Đất được phân loại sau đó được rửa bằng nước có thể bổ sung thêm axit hoặc bazơ.
    KLN được giải phóng từ bề mặt đất vào nước cùng với các hợp chất hữu cơ cao phân
    tử. Kỹ thuật này phù hợp để xử lý đất chứa nhiều cát và sỏi. Sau xử lý vẫn còn một
    lượng KLN tồn dư trong đất.
    - Xử lý nhiệt: Phương pháp này dựa vào phản ứng đốt cháy các hợp chất để tạo
    thành CO 2 và nước. Đất được đào lên và đốt ở nhiệt độ cao thường từ 600 0 C-1700 0 C,
    KLN sẽ bị tách khỏi liên kết với đất, thu hồi KLN với tro và đem chôn. Phương pháp
    này cũng hữu hiệu trong việc xử lý các KLN dễ bay hơi như Hg.
    - Cố định các chất ô nhiễm: Phương pháp này dựa vào các phản ứng ôxy hoá
    khử, phản ứng tạo kết tủa, phản ứng trung hoà, keo tụ hay phân huỷ các chất độc
    hại. Ví dụ việc sử dụng các hợp chất chelat như: bổ sung phôtphat vào đất bị ô
    nhiễm Pb phôtphat sẽ liên kết với Pb để chuyển Pb thành dạng kém linh động trơ về
    mặt hoá học trong đất. Có thể sử dụng thuốc thử Dichloromethane để nhận biết sự
    kết thúc của phản ứng hoá học. Phương pháp này được dùng để xử lý đất ô nhiễm
    Na, Al, Zn nhưng thường gây ảnh hưởng đến môi trường do lượng thuốc thử dư tồn
    tại trong đất.
    Nhìn chung các phương pháp truyền thống trên có hiệu quả xử lý cao nhưng
    chi phí đầu tư lớn. Đất sau xử lý vẫn còn chứa một lượng kim loại nhất định và có
    thể ảnh hưởng tới môi trường. Hơn nữa phương pháp này còn tỏ ra kém hiệu quả
    khi nồng độ kim loại trong đất thấp và mức độ phân tán của kim loại lớn. Trong
    những trường hợp này thì sử dụng biện pháp sinh học là một giải pháp tối ưu [47].
    1.4.3. Phương pháp sinh học
    Xử lý đất chứa kim loại nặng bằng biện pháp sinh học đang trở thành một
    hướng đi đầy triển vọng. Phương pháp này dựa trên nguyên tắc sử dụng một số loài vi
    sinh vật và thực vật sử dụng kim loại như là thành phần vi lượng trong quá trình phát
    triển sinh khối tự nhiên của chúng. 17
    1.4.3.1. Xử lý bằng vi sinh vật
    Hiện nay, người ta đã tìm thấy rất nhiều loài vi sinh vật và thực vật có khả năng
    tích luỹ một lượng lớn kim loại nặng trong tế bào của chúng. Chẳng hạn như vi khuẩn
    Bacillus có khả năng hấp thụ tới 178 mg Cr/g sinh khối khô. Vi khuẩn Alcaligenes
    eutrophus CH34 được sử dụng để xử lý đất cát ô nhiễm Cd, Zn và Pb. Sau khi xử lý,
    hàm lượng Cd giảm từ 21 mg/kg xuống 3,3 mg/kg, Zn từ 1070mg/kg xuống 172mg/kg,
    Pb giảm từ 459mg/kg xuống 74mg/kg [79]. Sự hấp phụ sinh học để loại bỏ và thu hồi
    kim loại cũng đang trở thành một hướng đi đầy tiềm năng. Kĩ thuật này sử dụng sinh
    khối vi sinh vật đã bị chết hoặc bị bất hoạt có khả năng hấp phụ kim loại lên bề mặt.
    Các cơ chế của quá trình này gồm có trao đổi ion, cố định, hấp phụ và bẫy ion vào
    mạng lưới cấu trúc polysaccharide của vi sinh vật. Do vi sinh vật có diện tích bề mặt tế
    bào lớn, chẳng hạn như tảo: Oscillatoria, Anabaena, Eudorina, nấm Aspergillus và vi
    khuẩn Pseudomonas nên có thể hấp phụ một lượng lớn kim loại lên bề mặt của chúng
    và đạt tốc độ xử lý nhanh [31].
    Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa PU21 được cố định trong alginat canxi để
    tách Pb, Cu, Cd và Hg rất có hiệu quả. Một số nhóm vi sinh vật có khả năng tích luỹ tốt
    các kim loại nặng. Hiệu quả sử dụng bùn hoạt tính để xử lí kim loại nặng phụ thuộc
    nhiều vào chính khả năng thích ứng của các vi khuẩn đối với các kim loại này và khả
    năng tạo bông của chúng. Người ta cho rằng các polyme ngoại bào (bao gồm các
    polysacarít, protein, axít nucléic) đóng vai trò then chốt trong quá trình tạo bông của
    các vi khuẩn hiếu khí này. Nghiên cứu của Cheng và cs. (1975) cho thấy các vi sinh vật
    trong bùn hoạt tính có khả năng loại 95-97 % Pb, 81-84 % Cu, 74-86 % Cd và 47-59 %
    Ni khi nồng độ các kim loại này trong nước thải đạt 2-25 mg/L.
    1.4.3.2. Xử lý bằng thực vật
    Làm sạch đất ô nhiễm là một quá trình đòi hỏi công nghệ phức tạp và vốn đầu
    tư cao. Hầu hết các phương pháp hoá học hoặc vật lý truyền thống nói trên đều rất tốn
    kém về kinh phí, giới hạn về kỹ thuật và hạn chế về diện tích, . Gần đây, nhờ những
    hiểu biết về cơ chế hấp thụ, chuyển hoá, chống chịu và loại bỏ chất ô nhiễm của một số
    loài thực vật, người ta đã bắt đầu chú ý đến khả năng sử dụng thực vật để xử lý môi
    trường như một công nghệ đặc biệt. Thực ra khả năng làm sạch môi trường của thực
    vật đã được biết từ thế kỷ XVIII bằng các thí nghiệm của Joseph Priestley, Antoine
    Lavoissier, Karl Scheele và Jan Ingenhousz. Tuy nhiên, mãi đến những năm 1990
    phương pháp này mới được nhắc đến như một loại công nghệ mới dùng đề xử lý môi
    trường đất và nước bị ô nhiễm. Cho đến nay, việc sử dụng thực vật để xử lý các chất ô
    nhiễm đã được ứng dụng ở nhiều nơi và áp dụng cho nhiều loại chất ô nhiễm. Giải
    pháp công nghệ này bao gồm một số quá trình cơ bản như sau [50,52,57]:
    - Chuyển hoá chất ô nhiễm (Phyto-transformation): Áp dụng cho nước và đất bị
    ô nhiễm bởi các chất thải hữu cơ giàu amoni, phosphat, thuốc trừ cỏ, perclorat .Các
    loại thực vật dùng cho quá trình này là cây dương, liễu, cỏ linh lăng, thực hiện cố định
    các chất ô nhiễm và biến đổi chúng trong quá trình trao đổi chất của mình. - Xử lý bằng vùng rễ (Rhizosphere remediation): Áp dụng cho đất hoặc bùn lắng
    bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học như BTEX, TPH,
    PAHs, PCBs và thuốc bảo vệ thực vật. Các loài được dùng cho công nghệ này là cỏ có
    rễ sợi (cỏ đuôi trâu), cây sản xuất các hợp chất phenol (dâu tằm, táo), thực vật thủy
    sinh. Các loài thực vật này tiết ra các chất để kích thích các vi sinh vật vùng rễ như
    nấm men, nấm, vi khuẩn phát triển và phân giải các chất ô nhiễm qua quá trình trao đổi

    Xem Thêm: Nghiên cứu sử dụng thực vật để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng tại các vùng khai thác khoáng sản
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Nghiên cứu sử dụng thực vật để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng tại các vùng khai thác khoáng sản sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu
Tài liệu mới

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status