Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của Việt Nam - áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Nhuệ -

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18524 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của Việt Nam - áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Nhuệ -

    2

    MỤC LỤC

    Đặt vấn đề .3
    1. Đối tượng đánh giá của Chương trình quan trắc dùng Bộ chỉ thị
    sinh học .4
    2. Mục tiêu của việc phân tích, đánh giá kết quả quan trắc môi
    trường lưu vực sông sử dụng Bộ chỉ thị sinh học .5
    3. Các tiêu chí phân tích, đánh giá kết quả quan trắc dùng Bộ chỉ
    thị sinh học rút gọn 6
    3.1. Các tiêu chí phân tích kết quả thuỷ sinh trong quan trắc dùng
    Bộ chỉ thị sinh học 6
    3.1.1. Đối chiếu với các tiêu chí đề xuất Bộ chỉ thị sinh học áp dụng
    vào quan trắc môi trường nước 6
    3.1.2. Đối chiếu với các kết quả lý hoá .8
    3.2. Các tiêu chí đánh giá kết quả quan trắc dùng Bộ chỉ thị sinh học 11
    3.2.1. Đánh giá các loài sinh vật chỉ thị theo đặc tính phân bố theo lưu
    vực 11
    3.2.2. Đánh giá các loài sinh vật chỉ thị theo đặc tính phân bố theo thời
    gian .14
    Kết luận .16









    3

    Đặt vấn đề
    Trong thực tế hiện nay, chưa có chương trình quan trắc đơn lẻ nào có
    thể đáp ứng được toàn bộ các yêu cầu của hoạt động giám sát bảo vệ môi
    trường lưu vực sông, và sử dụng Bộ chỉ thị sinh học là một trong các phương
    pháp hiệu quả để thực thi mục tiêu trên đang được thử nghiệm và triển khai
    ở phạm vi một số đề tài và chương trình nghiên cứu. Điểm mạnh nhất của
    chỉ thị sinh học so với các phương pháp hoá lý thông thường là có thể theo
    dõi những biến đổi lâu dài, có tính tích luỹ thông qua các nhóm sinh vật
    nhạy cảm với những biến đổi môi trường.
    Tuy nhiên mỗi nhóm sinh vật có tập tính phân bố và sinh sống nhất
    định, không hoàn toàn nhất quán với những biến đổi về chất lượng của môi
    trường nước, và các phương pháp tính toán dùng sinh vật chỉ thị cũng rất đa
    dạng và việc áp dụng chúng đòi hỏi cần nhiều nghiên cứu và thử nghiệm
    trong thời gian dài và với nhiều khu vực khác nhau. Vì vậy cần dung hoà và
    chọn lựa giữa các loài chỉ thị cũng như phương pháp tính toán để có thể xây
    dựng Bộ chỉ thị sinh học thích hợp nhất trong quan trắc môi trường nước các
    lưu vực sông ở Việt Nam.
    Mục đích chính của việc xây dựng bộ chỉ thị sinh học áp dụng vào quan
    trắc môi trường là nhằm triển khai rộng rãi một phương pháp thu thập và
    phân tích các thông số môi trường dễ áp dụng, rẻ và hiệu quả; bổ sung vào
    phương pháp phân tích các thông số lý hoá đang triển khai hiện nay, phục vụ
    đánh giá diễn biến môi trường nước các lưu vực sông ở Việt Nam một cách
    hiệu quả. Trước mắt, ở phạm vi đề tài khoa học công nghệ 2008 - 2009, mục
    tiêu cụ thể của Bộ chỉ thị sinh học rút gọn áp dụng vào quan trắc môi trường
    là nhằm đánh giá diễn biến ô nhiễm hữu cơ lưu vực sông Nhuệ - Đáy, đánh
    giá tính khả thi và khả năng nhân rộng việc áp dụng bộ chỉ thị sinh học này
    ra các vùng khác của Việt Nam. Chuyên đề “Đề xuất các tiêu chí phân tích,
    đánh giá kết quả quan trắc môi trường LVS sử dụng bộ chỉ thị sinh học”
    sẽ đưa ra các tiêu chí để xem xét và đánh giá kết quả quan trắc sinh học triển
    khai ở lưu vực sông Nhuệ - Đáy năm 2009.

    4


    4. Đối tượng đánh giá của Chương trình quan trắc dùng Bộ chỉ thị sinh
    học
    Việc triển khai Bộ chỉ thi sinh học vào quan trắc môi trường lưu vực
    sông được thử nghiệm ở lưu vực sông Nhuệ - Đáy với 03/07 nhóm sinh vật
    chỉ thị đã đề xuất trong Bộ chỉ thị sinh học đầy đủ, bao gồm:
    - Thực vật nổi: Gồm tập hợp các nhóm thực vật sống trôi nổi trong
    nước, thành phần chủ yếu là các loài tảo (tảo lục, tảo lam, tảo vàng, tảo silic,
    tảo giáp) và vi khuẩn. Độ phong phú của TVN phụ thuộc vào hàm lượng các
    chất dinh dưỡng (trước hết là nitơ, photpho, kali) có trong môi trường nước.
    Đây là đặc điểm quan trọng để chọn TVN làm sinh vật chỉ thị cho môi
    trường nước bị ô nhiễm hữu cơ.
    - Động vật nổi: Đây cũng là một nhóm sinh vật phổ biến trong môi
    trường nước, sống trôi nổi và không có khả năng tự di động. Thông qua việc
    phân tích mật độ và thành phần phong phú các nhóm ĐVN trong mỗi vùng
    nước có thể đánh giá được diễn biến chất lượng môi trường nước.
    - Động vật không xương sống cỡ lớn: Nhóm ĐVKXSCL là đối tượng
    được sử dụng phổ biến trong hoạt động đánh giá môi trường nước bởi đây là
    một nhóm đa dạng có chu kỳ sống khá lâu. Các loài động vật đáy sống tĩnh
    tại có phản ứng mạnh và thường có thể dự báo các ảnh hưởng đến môi
    trường. Nhóm động vật đáy cỡ lớn ở sông suối và hồ đã sớm được sử dụng ở
    nước ta trong quan trắc ô nhiễm hữu cơ.
    Các nhóm sinh vật trên được lấy mẫu theo chương trình quan trắc đã
    thiết lập và phân tích theo các thông số sau:
    - Chỉ số đa dạng: Áp dụng cho nhóm thực vật nổi và động vật nổi. Về
    lý thuyết, chỉ số đa dạng được xây dựng để đánh giá mức độ đa dạng thành
    phần loài của quần xã sinh vật. Ở góc độ sinh thái học, các mức độ đa dạng
    còn phản ánh những tác động của điều kiện môi trường. Môi trường càng
    suy thoái và ô nhiễm thì tính đa dạng của toàn bộ quần xã càng suy giảm và
    sự phát triển của một nhóm hoặc một số nhóm loài thích nghi cao với ô
    nhiễm càng tăng. Bởi vậy, các nhà chuyên môn đã xác định chất lượng môi
    trường gián tiếp theo chỉ số đa dạng. Ở phạm vi đề tài này có hai loại chỉ số
    đa dạng được áp dụng để tính toán là chỉ số Chỉ số Shannon-Weiner (H’) và
    chỉ số Margalef (D).
    - Chỉ số tỷ lệ giữa các taxon: Tính toán tỷ lệ về thành phần loài giữa
    các taxon để xác định mức độ dinh dưỡng của thuỷ vực 5
    - Cách tính điểm BMWP và ASPT: Áp dụng cho một số họ
    ĐVKXSCL, việc tính toán dựa vào sự lựa chọn các nhóm tham gia tính
    điểm bao gồm các họ có tính nhạy cảm cao nhất, sau đó là các họ có tính
    nhạy cảm giảm dần và cuối là các họ có khả năng thích nghi với điều kiện
    môi trường thay đổi. Sau khi có điểm tổng cộng BMWP sẽ tính điểm số
    trung bình ASPT, là chỉ số sinh học tương ứng với các mức chất lượng nước.
    Kết quả đánh giá chất lượng môi trường nước sông Nhuệ - Đáy dùng 3
    nhóm sinh vật chỉ thị dựa vào các thông số trên sẽ được so sánh với các kết
    quả quan trắc dùng các thông số lý hoá thông thường để xem xét, đối chứng
    về diễn biến môi trường lưu vực sông khảo sát.
    5. Mục tiêu của việc phân tích, đánh giá kết quả quan trắc môi trường
    lưu vực sông sử dụng Bộ chỉ thị sinh học
    - Kiểm tra, đối chiếu kết quả quan trắc môi trường lưu vực sông sử
    dụng bộ chỉ thị sinh học của đề tài với kết quả quan trắc lý hoá trong cùng đề
    tài, đối chiếu với các chương trình nghiên cứu khác có sử dụng Bộ chỉ thị
    sinh học: Việc so sánh này cho phép đánh giá một cách toàn diện hiện trạng
    chất lượng nước lưu vực sông tiến hành quan trắc, mặt khác cho thấy điểm
    mạnh và yếu của phương pháp quan trắc sử dụng bộ chỉ thị sinh học của đề
    tài so với các phương pháp quan trắc lý hoá thông thường và so với các Bộ
    chỉ thị sinh học của các đề tài, chương trình khác. Đây là mục tiêu chính và
    quan trọng nhất của việc tiến hành nhận định kết quả quan trắc dùng sinh vật
    chỉ thị, thông qua đó sẽ đánh giá được tính hiệu quả và khả thi của Bộ chỉ thị
    sinh học đã đề xuất.
    - Nghiên cứu, đánh giá lại toàn bộ Bộ chỉ thị sinh học đã đề xuất của đề
    tài so với kết quả dự kiến cần đạt: các nội dung của phần này bao gồm:
    ã Kiểm tra và thống nhất lại Bảng phân loại học và Khoá định loại các
    loài áp dụng cho nghiên cứu;
    ã Tính đặc trưng, phù hợp của các loài chỉ thị đã chọn trong Bộ chỉ thị
    đối với vùng nghiên cứu: Đánh giá qua thành phần loài thu mẫu, vị trí
    phân bố và sự phong phú từng loài, tần suất xuất hiện từng nhóm loài
    trong từng thời kỳ lấy mẫu; tính đặc trưng và ưu thế của một số nhóm
    loài đối với vùng nghiên cứu; đánh giá những nhóm sinh vật thích hợp
    và có khả năng cho kết quả tốt thông qua nghiên cứ ở phòng thí
    nghiệm; tính phù hợp của các loài trong Bộ chỉ thị để chọn làm chỉ thị
    sinh học cho cả vùng nghiên cứu (đối chiếu lại với các tiêu chí đề ra
    trong phần lựa chọn sinh vật chỉ thị áp dụng vào quan trắc môi trường);
    ã Kiểm chứng danh sách loài chọn từ Bộ chỉ thị sinh học đầy đủ vào
    Bộ chỉ thị sinh học rút gọn đã phù hợp chưa: phù hợp cho mục đích 6
    đánh giá nhanh chất lượng nước, quan trắc theo dõi diễn biến chất
    lượng nước trong năm, quan trắc định tính hay định lượng, những loại
    nào đòi hỏi nghiên cứu sâu và nhiều phân tích trong phòng thí nghiệm
    phù hợp cho các mục đích nghiên cứu chuyên biệt .;
    ã Khả năng áp dụng cho những vùng nghiên cứu tương tự và mở rộng
    phạm vi áp dụng Bộ chỉ thị đã đề xuất trong đề tài;
    - Phân tích các yếu tố tác động và ảnh hưởng kết quả quan trắc dùng
    Bộ chỉ thị sinh học: Thông qua kết quả đạt được từ chương trình quan trắc
    dùng Bộ chỉ thị sinh học và đối chiếu với các tiêu chí đề ra của nhiệm vụ có
    thể đánh giá những yếu tố tác động đến kết quả thu được, đặc biệt là những
    yếu tố ảnh hưởng đến sai số hệ thống, kết quả sai hoặc khả năng áp dụng
    thấp cần. Đây cũng là nội dung quan trọng cần xem xét trong quá trình đánh
    giá kết quả quan trắc để đưa ra được kết luận phù hợp, tránh trường hợp
    đánh giá kết quả sai với thực tế hoặc kết quả vô lý do lỗi trong quá trình lấy
    mẫu, sai số trong quá trình tính toán kết quả, .Xác định được các nhân tố
    này cũng là một sản phẩm của đề tài, kết quả này cần được đề xuất để khắc
    phục hoặc loại bỏ khỏi chương trình quan trắc có sử dụng Bộ chỉ thị sinh
    học.
    6. Các tiêu chí phân tích, đánh giá kết quả quan trắc dùng Bộ chỉ thị
    sinh học rút gọn
    Dựa trên cơ sở xác định đối tượng và mục tiêu của việc đánh giá kết
    quả quan trắc dùng Bộ chỉ thị sinh học, một số tiêu chí cụ thể để xem xét,
    kiểm chứng và phân tích các kết quả quan trắc sinh học trong phạm vi đề tài
    được đưa ra, bao gồm:
    3.1. Các tiêu chí phân tích kết quả thuỷ sinh trong quan trắc dùng Bộ
    chỉ thị sinh học:
    3.1.1. Đối chiếu với các tiêu chí đề xuất Bộ chỉ thị sinh học áp dụng vào
    quan trắc môi trường nước:
    Nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã cho thấy, sử dụng sinh
    vật chỉ thị vào quan trắc môi trường có thể đem lại hiệu quả cao hơn so với
    phương pháp lý hoá học nhờ khai thác khả năng tích tụ các chất ô nhiễm
    trong cơ thể sinh vật và giá trị biểu thị tác động tổng hợp các yếu tố môi
    trường của sinh vật. Chính vì vậy có nhiều Bộ chỉ thị sinh học được đề xuất
    và đưa ra thử nghiệm đối với môi trường nước. Để đánh giá kết quả đạt được
    thông qua hoạt động quan trắc sử dụng Bộ chỉ thị sinh học, việc đối chiếu
    với các tiêu chí đã đề ra trong quá trình lựa chọn và xây dựng Bộ chỉ thị sinh
    học là nội dung đầu tiên cần xem xét. 7
    Thực tế, do tính đặc thù rất đa dạng về thành phần các loài sinh vật thuỷ
    sinh phân bố trong môi trường nước, không thể lựa chọn tất cả các sinh vật
    làm loài chỉ thị, nên việc xây dựng Bộ chỉ thị cần căn cứ vào một số tiêu chí
    và thứ tự ưu tiên nhất định. Dựa trên các tiêu chí đã đề ra trong bước xây
    dựng Bộ chỉ thị, ở khâu đánh giá kết quả quan trắc ứng dụng Bộ chị thị cần
    kiểm chứng lại các tiêu chí tương ứng với các nội dung đã đề xuất trong
    phần xây dựng Bộ chỉ thị. Các tiêu chí này bao gồm:
    a) Tiêu chí về chất lượng số liệu quan trắc sinh vật chỉ thị: Cần xác
    định chất lượng số liệu thu được từ sinh quan trắc môi trường nước thông
    qua việc đánh giá các tiêu chí đề xuất trong phần xây dựng Bộ chỉ thị sinh
    học.
    Bảng 1. Xếp hạng các tiêu chí lựa chọn chỉ thị môi trường
    A. Phù hợp về chính sách
    B. Tính sẵn có của dữ liệu
    C. Tính so sánh và so sánh dùng mức chuẩn
    D. Được tài liệu hoá đầy đủ và quản lý được chất lượng chỉ thị
    E. Có cơ sở về khái niệm và phương pháp luận
    F. Tính chính xác của số liệu
    G. Độ bao phủ về không gian và thời gian
    H. Tính liên tục của số liệu
    I. Tính đơn giản và dễ hiểu
    Nếu số liệu thu được cho kết quả không rõ ràng, khó so sánh đối chiếu
    qua thời gian hoặc không nhất quán với các kết quả quan trắc khác thì cần
    nghiên cứu và xem xét lại nguyên nhân của vấn đề do lỗi kỹ thuật lấy mẫu
    hay do việc lựa chọn chỉ thị chưa phù hợp.
    b) Tiêu chí về đặc tính các nhóm loài sinh vật chỉ thị thu mẫu trong các
    đợt quan trắc: Những thuộc tính của các loài sinh vật chỉ thị tốt bao gồm:
    ã Nhạy cảm: các nhóm sinh vật thu được có tính nhạy cảm với những
    biến đổi môi trường, đặc biệt là với sự thay đổi về nồng độ các chất ô
    nhiễm đặc trưng cho dạng ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm kim loại nặng,
    .hoặc đặc trưng cho các biến đổi theo mùa và theo điều kiện địa lý
    nhất định. Kết quả quan trắc có thể cho thấy một số loài chỉ phân bố ở
    khu vực này mà không thấy có ở khu vực khác, đây là những nhóm loài
    được coi là nhạy cảm với môi trường, điển hình như một số họ ấu trùng
    côn trùng ở nước. ã Đặc trưng: những loài sinh vật chỉ thị có đặc trưng dễ nhận biết sẽ
    giúp cho người thực hiện quan trắc nhưng không có nhiều kiến thức
    chuyên sâu về sinh học có thể nhận dạng và xác định được loài chỉ thị
    cần quan trắc. Qua đánh giá kết quả quan trắc sẽ thấy có một số vùng
    lấy mẫu có một hoặc vài loài có tần số xuất hiện cao hơn hẳn so với các
    nhóm loài khác cũng như so với các khu vực khác. Sự sai khác này
    không chỉ phản ánh biến đổi chất lượng của môi trường mà còn cho
    thấy tập tính và sinh cảnh phù hợp với mỗi nhóm thuỷ sinh vật, vì vậy
    cần nghiên cứu rõ và loại bỏ những yếu tố khách quan tự nhiên để thu
    được kết quả đánh giá chất lượng nước dùng sinh vật làm chỉ thị tốt
    nhất. Những loài sinh vật phân bố đồng đều trong cả môi trường ô
    nhiễm và môi trường sạch không được coi là một chỉ thị tốt.
    ã Tính ứng dụng phổ biến: thể hiện qua các đặc tính: dễ thu mẫu ngoài
    thiên nhiên, có số lượng nhiều, kích thước vừa phải, có vòng đời ngắn,
    năng suất sinh học cao
    ã Phân bố rộng rãi: loài sinh vật phân bố rộng rãi là loài có khả năng
    thích ứng cao với nhiều điều kiện môi trường. Phổ biến và phong phú ở
    địa phương và ở tất cả thời gian. Một số nhóm loài (ví dụ như nhóm

    Xem Thêm: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của Việt Nam - áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Nhuệ -
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của Việt Nam - áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Nhuệ - sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu
Tài liệu mới

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status