Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của Việt Nam - áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Nhuệ -

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18524 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của Việt Nam - áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Nhuệ -

    - 1 -
    MỞ ĐẦU
    Vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và vấn đề ô nhiễm môi trường nước
    nói riêng đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Vận dụng sáng tạo và phát
    triển các ý tưởng từ các nghiên cứu quốc tế, kết hợp với những kinh nghiệm và kiến
    thức thực tiễn trong điều kiện môi trường nước ta, việc nghiên cứu sử dụng sinh vật
    chỉ thị để đánh giá chất lượng môi trường nước cũng đã được tiến hành trong các
    năm gần đây và đạt được 1 số thành tựu nhất định.
    Việc áp dụng phương pháp sinh học trong đánh giá chất lượng nước ngày
    nay đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm và áp dụng. Tuy nhiên, sử dụng các
    chỉ thị sinh vật để quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường nước còn chưa được
    áp dụng nhiều ở nước ta. Hiện nay chưa có những tiêu chuẩn sinh học cụ thể hay
    các chỉ số sinh học đánh giá chất lượng nguồn nước mặt. Cần phải có những nghiên
    cứu trên nhiều khu vực để xây dựng một hệ thống chỉ số sinh học dùng để đánh giá
    chất lượng nước phù hợp cho từng vùng. Nhìn nhận môi trường thủy vực dưới góc
    độ sinh thái cũng như nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị môi trường mới chỉ bắt
    đầu để cập nhưng chưa được thực hiện đồng bộ trên quy mô lớn, và mới chỉ dừng ở
    mức đánh giá định tính. Vì vậy chưa có chỉ số riêng cho từng khu vực để đánh giá
    giám sát chất lượng thủy vực quốc gia.
    Phân tích, đánh giá các hệ thống chỉ thị sinh học cho môi trường nước lưu
    vực sông đã được nghiên cứu và xây dựng ở Việt Nam với mục đích xem xét
    phương pháp nghiên cứu và số liệu thu được, tiếp thu, thừa kế những thành tựu góp
    phần xây dựng bộ chỉ thị có tính ứng dụng phổ biến trên quy mô rộng lớn, phù hợp
    với các điều kiện lưu vực sông nước ta và tính chính xác cao về cả mặt định tính và

    - 2 -
    I. GIỚI THIỆU CHUNG
    Từ những năm 1960 ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về tác động của
    nước thải đến số lượng và thành phần các động vật không xương sống cỡ lớn,
    nhưng hầu hết những nghiên cứu này tập trung vào sinh vật ở các thuỷ vực trong
    một số thị trấn và thành phố chính. Việc nhìn nhận môi trường nước dưới góc độ
    sinh thái học cũng như nghiên cứu sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng môi trường
    thủy vực mới bắt đầu được quan tâm từ những năm 1980 trở lại đây. Đặng Ngọc
    Thanh (1980) nghiên cứu tác động của ô nhiễm các chất độc như thuốc trừ sâu,
    thuốc diệt cỏ lên khu hệ thủy sinh vật cho biết, sau khi phun một số loại thuốc trừ
    sâu thì ấu trùng Chirononidae, tôm mất hẳnvà chỉ xuất hiện trở lại sau 8 - 12 ngày,
    còn tôm thì sau 50 ngày vẫn chưa thấy xuất hiện.
    Mặc dù việc đánh giá mức độ ô nhiễm các thủy vực đã được quan tâm từ lâu,
    nhưng cho tới năm 1995 hầu như chưa có hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn của các
    thuỷ vực. Nguyễn Xuân Quýnh khi xác định mức độ ô nhiễm một số thủy vực ở Hà
    Nội đã xem tỷ lệ thành phần loài và số lượng của một số nhóm thủy sinh như Trùng
    bánh xe, giáp xác Chân chèo, giáp xác Râu ngành, ấu trùng Chironomidae, Giun ít
    tơ là những chỉ số đánh giá quan trọng cho các mức ô nhiễm. Khảo sát các hồ ở Hà
    Nội còn cho thấy, ở hầu hết các hồ có hàm lượng PO 4
    3- và NO 3
    - cao thì trong thành
    phần tảo, nhóm tảo Lục với các loài thuộc chi Scenedesmus thường rất phát triển
    nên có thể dùng làm chỉ thị sinh học trong quan trắc chất lượng nước. Khảo sát
    trong các nhóm Động vật phù du tại đây thì nhóm Rotatoria và Cladocera phát triển
    mạnh nhất. Dường như không thấy nhóm Calanoida trong các hồ này (Đặng Ngọc
    Thanh, 2002).
    Gần đây, năm 2005 có công trình của Nguyễn Tác An và các cộng tác viên,
    dựa vào quần thể tuyến trùng Nematoda (Giun tròn) và kết quả tính toán chỉ số đa
    dạng Shannon (H’) cho quần xã thực vật và động vật phù du đánh giá chất lượng
    môi trường nước một số đầm, vịnh ven biển như vịnh Cam Ranh, vịnh Nha Trang,
    vịnh Hạ Long, đầm Nha Phu, đầm Thị Nại .; bước đầu đề xuất một số loài tuyến
    trùng chỉ thị cho chất lượng môi trường ven biển.
    Vừa qua có một số tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến chất lượng sinh học
    nước đã được Nhà nước ban hành như: TCVN 7176:2002 về Phương pháp lấy mẫu
    sinh học- Hướng dẫn lấy mẫu động vật không xương sống cỡ lớn bằng vợt cầm tay;
    TCVN 7177:2002 về Hướng dẫn thiết kế và sử dụng dụng cụ lấy mẫu định lượng
    đối với động vật không xương sống cỡ lớn trên nền đá ở vùng nước nông Do
    chưa có được một quy trình chuẩn về thu mẫu, một phương pháp thống nhất trong

    - 3 -
    xử lý và đánh giá số liệu về thực trạng chất lượng môi trường nước, cho nên chưa
    thể xây dựng ở Việt Nam một hệ thống các chỉ số sinh học độc lập để đánh giá và
    quan trắc chất lượng môi trường nước và có thể dự báo được diễn thế của chúng
    dưới tác động ngày càng gia tăng của con người.
    Chuyên đề này sẽ điểm lại một số nghiên cứu điển hình đã được thực hiện
    trong nước về vấn đề sử dụng chỉ thị sinh học nhằm đánh giá chất lượng nước sông.
    Các nghiên cứu này chính là cơ sở bước đầu cho việc đề xuất một Bộ chỉ thị thống
    nhất ở Việt Nam sau này.
    Dù mới đang ở những bước đầu tiên, việc sử dụng các sinh vật chỉ thị để
    quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường nước còn rất mới đối với nước ta, các
    nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị môi trường mới bắt đầu đề cập nhưng chưa
    được thực hiện đồng bộ và mới dừng ở đánh giá định tính tuy nhiên nó sẽ góp phần
    đánh giá hiện trạng môi trường một cách toàn diện, cảnh báo những tác động tiêu
    cực khi tác động đến các hệ sinh thái hoặc khi chuyển hệ sinh thái tự nhiên sang các
    dạng khác, đem lại hiệu quả đáng kể trong công tác kiểm soát chất lượng môi
    trường và ra quyết định trong tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội đảm bảo mục tiêu
    phát triển bền vững.











    - 4 -
    II. NHỮNG NGHIÊN CỨU DÙNG SINH VẬT CHỈ THỊ Ở VIỆT NAM
    II.1. Giám sát sinh học môi trường nước ngọt bằng động vật không xương sống
    cỡ lớn
    Nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm các nhà khoa học thuộc trường Đại học
    Khoa Học Tự Nhiên- ĐHQGHN phối hợp cùng nhóm các nhà khoa học Anh quốc
    diễn ra trong 3 năm 1998-2000.
    Mẫu nghiên cứu được thu thập vào tháng 4 và tháng 8 năm 1999. Ở bắc Việt
    Nam, các địa điểm thu mẫu được lấy theo thứ tự 1 con suối nhỏ, chảy mạnh trên núi
    Tam Đảo, chảy chậm qua những địa điểm ở đồng bằng xung quanh là đồng lúa,
    cuối cùng đổ ra sông Cầu, với các nguồn ô nhiễm tiềm năng khác nhau bao gồm
    nước thải từ các thành phố, thị trấn và các ngành công nghiệp cũng như nông
    nghiệp. Ở miền Nam, các địa điểm lấy mẫu được chọn ở trong và xung quanh thành
    phố cao nguyên Đà Lạt, những điểm thuộc suối đổ ra sông Đa Nhim, bao gồm 1
    phạm vi rộng về các điều kiện vật lý và hóa học. Tổng số có 14 điểm thu mẫu ở
    miền Bắc và 15 điểm thu mẫu ở miền Nam. Tuy nhiên có 1 số điểm không thể thu
    mẫu vì mùa khô, mực nước quá thấp, hoặc vào mùa mưa, mực nước quá cao không
    thể thực hiện thu mẫu.
    Kết quả nghiên cứu là đã xây dựng nên khóa định loại động vật không xương
    sống (ĐVKXS) cỡ lớn đến cấp họ, thiết lập quy trình lấy mẫu và hệ thống tính điểm
    sử dụng trong quan trắc sinh học đối với các thủy vực nước chảy Việt Nam (VN).
    Có thể coi đây là những kết quả ban đầu làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo
    nhằm từng bước hoàn thiện quy trình quan trắc đánh giá chất lượng nước thông qua
    sinh vật chỉ thị là ĐVKXS cỡ lớn ở VN.
    Với mục tiêu nghiên cứu về mặt định tính khu hệ ĐVKXS cỡ lớn ở 1 khúc
    sông có thể cho ta thông tin về chất lượng môi trường ở đó. Từ chính những dẫn
    liệu thu được có thể phát hiện được những thay đổi thực tế về chất lượng môi
    trường ở một hay nhiều địa điểm, phát hiện được những sự khác nhau về không
    gian trong chất lượng môi trường nước của 1 dòng sông hay cả vùng nghiên cứu.
    Từ nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đưa ra Hệ thống điểm BMWP Vietnam sử
    dụng cho Việt Nam.




    - 5 -
    Bảng 1. Hệ thống điểm BMWP Vietnam sử dụng cho Việt Nam
    Tên taxon Điểm
    a) Ephemeroptera : Heptageniidae, Leptophlebiidae, Ephemerellidae, Potaminthidae,
    Ephemeridae (mayflies)
    10
    b) Plecoptera : Leuctridae, Perlidae, Perlodidae (Stoneflies)
    c) Hemiptera : Aphelocheiridae (bugs)
    d) Odonata : Amphipterygidae (damselflies and Dragonflies)
    e) Trichoptera : Phryganeidae, Molannidae, Odontoceridae/Brachycentridae,
    Leptoceridae, Goeridae, Lepidostomatidae (caddis-flies)

    a) Crustacea : Potamidae (crabs), 8
    b) Trichoptera : Psychomyiidae, Philopotamidae (caddis-flies)
    a) Ephemeroptera : Caenidae (mayflies) 7
    b) Plecoptera : Nemouridae (stoneflies)
    c) Trichoptera : Rhyacophilidae, Polycentropodidae, Limnephilidae (Caddis-flies)
    a) Mollusca : Neritidae, Ancylidae (snails) 6
    b) Crustacea: Atyidae, Palaemonidae (Prawns, Shrimps)
    c) Trichoptera : Hydroptilidae (caddis-flies)
    d) Odonata : Lestidae, Agriidae (Calopterygidae), Gomphidae, Cordulegastridae,
    Aeshnidae, Corduliidae/Libellulidae, Coenagrionidae/Platycnemidae, Chlorocyphidae,
    Macromidae (dragonflies)

    a) Hemiptera : Veliidae, Mesovelidae, Hydrometridae, Gerridae, Nepidae, Naucoridae,
    Notonectidae, Belostomatidae, Hebridae, Pleidae, Corixidae (bugs)
    5
    b) Coleoptera : Haliplidae, Dytiscidae, Gyrinidae, Hydraenidae, Hydrophilidae,
    Hygrobiidae, Helodidae, Dryopidae, Elmididae, Chrysomelidae, Curculionidae,
    Psephenidae, Ptilodactylidae (beetles)

    c) Trichoptera : Hydropsychidae (caddis-flies)
    d) Diptera : Tipulidae, Simuliidae (dipteran flies)
    e) Platyheminthes : Planariidae (Dugesiidae) (triclads)
    f) Mollusca : Viviparidae, Amblemidae (bivalves)
    a) Ephemeroptera : Baetidae/Siphlonuridae (mayflies) 4
    b) Megaloptera : Sialidae, Corydalidae (alderflies and dobsonflies)
    c) Mollusca: Pilidae, Unionidae (snails, bivalves), Pachychilidae
    d) Oligochaeta : Piscicolidae (leeches)
    a) Mollusca : Hydrobiidae (Bithyniidae, Triculinae), Lymnaeidae, Planorbidae, Thiaridae,
    Corbiculidae, Sphaeriidae (Pisidiidae) (snails, bivalves)
    3
    b) Oligochaeta : Glossiphoniidae, Hirudidae, Erpobdellidae (leeches)
    c) Crustacea : Parathelphusidae (crabs)
    d) Odonata : Protoneuridae (dragonflies)
    a) Dipetra : Chironomidae (Diptera) 2
    a) Oligochaeta (whole class) 1
    Nguồn: Stepan Mustow, 1997; Nguyen Xuan Quynh, Mai Dinh Yen, Cliver Pinder,
    Steve Tilling, 2000 có sửa đổi.


    - 6 -
    - Điểm số của BMWP được tính như sau:
    ã Mẫu vật sau khi thu thập được tại các thuỷ vực, tiến hành phân loại và nhận biết
    chúng. Lập ra một bảng danh sách các ĐVKXS cỡ lớn thu được tại khu vực lấy
    mẫu.
    ã Dựa vào thành phần các họ tương ứng với các họ có mặt trong bảng tính điểm
    BMWP để tính theo từng họ (Bảng tính điểm BMWP), nếu họ nào không có
    trong bảng tính điểm thì có thể bỏ qua.
    ã Cộng tất cả các điểm số thu được từ mỗi họ tại từng điểm nghiên cứu ta sẽ được
    điểm số tổng cộng BMWP.
    ã Sau khi có điểm tổng cộng BMWP, tính điểm số trung bình hay còn gọi là
    ASPT (Average Score Per Taxon) bằng cách lấy tổng số điểm chia cho tổng số
    họ đã tham gia tính điểm. Điểm số ASPT là chỉ số sinh học tương ứng với một
    mức chất lượng nước. Chỉ số này trong khoảng từ 1-10.
    Bảng 2. Xếp loại mức độ ô nhiễm các thủy vực theo hệ thống điểm BMWP
    Thứ
    hạng
    Chỉ số ô nhiễm (ASPT) hay chỉ số
    sinh học (Bio-index)
    Đánh giá chất lượng nước

    I 10 - 8 Không ô nhiễm, nước sạch
    II 7,9 - 6 Ô nhiễm nhẹ (Oligosaprobe)
    III 5,9 - 5 Ô nhiễm vừa (β Mesosaprobe)
    IV 4,9 - 3 Khá ô nhiễm (α Mesosaprobe)
    V 2,9 - 1 Ô nhiễm nặng (Polysaprobe)
    VI 0 Ô nhiễm rất nặng (không có ĐVKXS)
    Nguồn: Environment Agency, UK, 1997. Richard Orton, Anne Bebbington và
    John Bebbington, 1995
    Qua việc áp dụng hệ thống điểm BMWP Vietnam và điểm sinh học trung bình
    ASPT cho việc phân hạng chất lượng nước một số thuỷ vực nước chảy phía bắc
    Việt Nam, nghiên cứu đã đưa ra một số nhận xét sau:
    ã Hầu hết các thuỷ vực sông suối miền núi đều có giá trị ASPT tương ứng
    từ mức Ô nhiễm nhẹ đến Khá ô nhiễm. Không có điểm khảo sát nào có môi trường
    nước đạt mức Không bị ô nhiễm (nước sạch). Trong khi đó, các kết quả phân tích
    môi trường nước thông qua các chỉ số thuỷ lý hoá chỉ danh ô nhiễm hữu cơ tại hầu
    hết các thuỷ vực ở đây cho thấy chất lượng nước đều dưới mức giới hạn cho phép
    nhiều lần theo tiêu chuẩn Việt Nam. Điều đó cho thấy các mức phân hạng môi

    - 7 -
    trường nước các thuỷ vực sông suối theo hệ thống điểm BMWP có thể sử dụng để
    cảnh báo về chất lượng môi trường sinh thái thuỷ vực.
    ã Giá trị điểm tính được phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng lấy mẫu và
    kích thước mẫu. Một quy trình lấy mẫu nhất quán sẽ cho điểm số ASPT chính xác
    và tin cậy. Kích thước mẫu lớn cho tổng số điểm cao, nhưng điểm ASPT có thể
    không cao, do số lượng các taxon tham gia tính điểm nhiều, trong đó nhiều họ
    thường có điểm chuẩn không cao. Điều đó cho thấy điểm BMWP có thể bị ảnh
    hưởng bởi tính mùa vụ hoặc điều kiện tự nhiên, trong khi đó, điểm ASPT sẽ ít bị tác
    động hơn.
    ã Hệ thống tính điểm áp dụng cho Anh, Thái Lan và hệ thống tính điểm cải
    tiến áp dụng cho Việt Nam đưa ra giá trị điểm trung bình cho những taxon tham gia
    tính điểm (ASPT) không chênh lệch nhau nhiều. Điều đó cho thấy có thể cải tiến hệ
    thống tính điểm (thay thế các họ không có bằng các họ phổ biến, thay đổi điểm
    chuẩn cho một số họ) để phù hợp với đặc điểm riêng về khu hệ cũng như tiêu chuẩn
    môi trường của mỗi Quốc gia và từng vùng.
    ã Ở một số quốc gia như Bỉ, lấy điểm sinh học > 6 là giới hạn chấp nhận
    với tiêu chuẩn nước mặt cho năm 1995. Ở Việt Nam hiện nay, đề xuất điểm sinh
    học giới hạn cho tiêu chuẩn nước mặt để phấn đấu là > 5, tương ứng với chất lượng
    nước ở mức ô nhiễm vừa (β Mesotrobic)
    ã Cuối cùng, do yêu cầu phân tích chỉ đến bậc phân loại là họ, nên việc thu
    mẫu, phân tích và tính điểm theo hệ thống BMWP là không khó khăn nhiều cho
    nhân viên phân tích (không phải là một nhà phân loại học) nếu được qua một khóa
    tập huấn ngắn.
    Nghiên cứu đã đạt được 3 mục tiêu:
    ã Bước đầu đánh giá các quần xã ĐVKXS trong mối liên quan của nó với
    các đặc điểm môi trường bao gồm chất lượng của những con sông và suối ở Việt
    Nam.
    ã Phương pháp BMWP phản ánh những điều kiện địa phương thông qua
    việc bổ sung thêm một số họ không có trong hệ thống gốc ở Anh và sửa đổi các giá
    trị điểm số phân bố theo họ trong đó, sao cho phù hợp với các điều kiện Việt Nam.
    ã Đánh giá hiệu lực của phương pháp đã áp dụng đối với 1 loạt các địa
    điểm có sự khác nhau về các đặc điểm vật lý và hóa học trên những hệ thống sông
    ngòi Việt Nam.

    - 8 -
    II.2. Ứng dụng phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học hệ sinh thái thủy
    vực vào sinh quan trắc chất lượng môi trường nước Việt Nam:
    Nghiên cứu của Nguyễn Vũ Thanh và cộng tác viên sử dụng tính đa dạng
    của quần xã động vật không xương sống (ĐVKXS) cỡ lớn và trung bình trong sinh
    quan trắc môi trường. Phương pháp này có các ưu thế sau:
    ã Số lượng cá thể, tổng số họ, giống, loài của quần xã ĐVKXS lớn và trung bình
    phản ánh tương đối chính xác hiện trạng chất lượng nước của khu vực, nếu quần
    xã ĐVKXS lớn và trung bình đa dạng, với sự phát triển bền vững của nhiều loài,
    nhiều họ thì chất lượng nước sẽ tốt, tác động ô nhiễm ít hoặc không đáng kể và
    ngược lại, chất lượng nước nguồn sẽ bị tác động, xấu đi nếu nhiều trong số các
    họ của ĐVKXS lớn và trung bình bị mất đi;
    ã Sự phát triển quần xã ĐVKXS lớn và trung bình trong các hệ sinh thái thủy vực
    không tách rời với sự phát triển ở một vài giai đoạn nào đó trong chu trình sống
    của ấu trùng côn trùng nước và các nhóm ĐVKXS khác, vì vậy sự hiện diện của
    các nhóm côn trùng nước như Ephemeroptera, Plecoptera, Trichoptera luôn luôn
    là thước đo bắt buộc trong tính tổng số điểm (BWMP), điểm trung bình (ASTP)
    và xác định các chỉ số sinh học cụ thể khác (BDI);
    ã Các nhóm ĐVKXS cỡ lớn và trung bình có hàng loạt ưu điểm hơn so với các
    nhóm động vật khác ở chỗ: chúng có mặt ở mọi sinh cảnh, vòng đời tương đối
    ngắn, sinh sản nhanh, số lượng cá thể lớn, hầu như không di chuyển khỏi chỗ cư
    trú, dễ thu mẫu, mẫn cảm với các tác động của môi trường;
    ã Đối với nhóm ĐVKXS lớn và trung bình, để đánh giá và sinh quan trắc chất
    lượng nước sông, taxon chính được sử dụng là Họ, trong trường hợp cần thiết
    như phải tính toán các chỉ số sinh học và chỉ số môi trường Warwick thì phải
    định loại tới giống hoặc loài mặc định;
    ã Có thể huy động được sự tham gia của nhiều người, nhiều tổ chức nghiên cứu
    quản lý khoa học và xã hội như các Viện, trường đại học, các sở Tài nguyên và
    Môi trường, các trường học, các trạm quan trắc nước sông, hồ quốc gia. Thời
    gian tập huấn không kéo dài, yêu cầu trang thiết bị không tốn kém và nếu được
    tổ chức tập huấn định kỳ thì sẽ làm được;
    ã Ở Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu nhóm ĐVKXS lớn và trung bình nhiều
    năm qua và tích lũy được một số kinh nghiệm và cũng đã có được một số bộ số
    liệu chuẩn (điều tra khảo sát cơ bản từ những ngày các thủy vực còn chưa bị

    - 9 -
    hoặc ít bị tác động ô nhiễm) để tiến hành các nghiên cứu so sánh và hoàn thiện
    tiêu chuẩn này.
    Một cách tổng quát có thể dựa vào cấu trúc quần xã để phân loại chất lượng
    môi trường. Cấu trúc được thể hiện ở các mức độ khác nhau và khi chưa có hệ
    thống phân loại quốc gia chính thức, có thể lập một số bảng phân loại và điểm số
    phục vụ cho mục đích trên.
    Bảng 3. Phân loại với năm dải chất lượng ĐVKXS cỡ lớn và trung bình
    Phân loại chất lượng ĐVKXS
    cỡ lớn và trung bình
    Giải thích
    Rất tốt Quần xã tương đương hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn với
    quần xã của nơi chưa bị tác động nhân tạo hoặc được coi là
    không đáng kể (không bị xáo trộn).
    Tốt Có các thay đổi nhỏ trong quần xã được quan sát khi so sánh
    với quần xã đối chứng.
    Trung bình Quần xã được quan sát không giống ở mức đáng kể và nhiều
    nhóm bị thiếu so với danh mục phân loại của quần xã đối chứng.
    Xấu Quần xã được quan sát không giống ở mức đáng kể và nhiều
    nhóm bị thiếu so với danh mục phân loại của quần xã đối chứng.
    Rất xấu Quần xã được quan sát bị suy giảm trầm trọng khi được so sánh
    với quần xã đối chứng. Chỉ có mặt các nhóm phân loại có khả
    năng sống trong điều kiện cực kỳ bị xáo trộn.
    Nguồn: TCVN 6966:2001
    Để góp phần hoàn thiện phương pháp quan trắc dựa trên sự hiểu biết đầy đủ
    về độ đa dạng của hệ sinh thái nước, nhất thiết phải tiến hành các nghiên cứu toàn
    diện đa dạng sinh học của các hệ sinh thái đặc trưng cho các vùng lãnh thổ khác
    nhau trong cả nước. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng và có thể áp dụng
    riêng lẻ hay phối kết hợp tuỳ đặc trưng của từng vùng nghiên cứu. Các chỉ số đa
    dạng Shannon- Weaver và Margalef, chỉ số ưu thế Simpson và chỉ số đồng đều
    Pielou đã được sử dụng rộng rãi trong sinh quan trắc và sẽ hoàn thiện hơn nếu sử
    dụng phương pháp so sánh ABC (Abundance Biomass Comparison Curves) với chỉ
    số Warwick.
    Kết quả nghiên cứu đối chiếu cho thấy, để thực hiện phân loại chất lượng
    nước ở phạm vi lớn hoàn toàn có thể sử dụng phương pháp cho điểm theo bản điểm
    sinh học của các Họ sinh vật thuỷ sinh. Phương pháp này cho phép khắc phục khó
    khăn trong việc phân loại các nhóm sinh vật đến thứ hạng loài và nhờ vậy việc sinh
    quan trắc môi trường nước không còn hạn chế nào đáng kể nữa. Qua những đợt tập

    - 10 -
    huấn ngắn ngày một người có trình độ trung cấp cũng đã có thể phân loại đến Họ
    những nhóm sinh vật có giá trị trong sinh quan trắc môi trường nước.
    II.3. Nghiên cứu sinh vật chỉ thị vùng cửa sông
    Đề tài “Nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị đánh giá và giám sát chất lượng
    môi trường vùng nuôi thủy sản tập trung” thực hiện trong thời gian 2 năm (2004 -
    2005) do Viện Nghiên cứu Hải sản là cơ quan chủ trì.
    Đối với các thủy vực có tác động của con người như các thủy vực nuôi, do
    ảnh hưởng của chất thải trong quá trình nuôi, của thức ăn thừa, của phân bón, của
    ngay nguồn nước cấp đã bị ảnh hưởng ô nhiễm do các hoạt động của con người v.v.
    dẫn đến các yếu tố sinh thái của môi trường thay đổi có thể loại trừ một số nhóm
    thủy sinh vật hoặc làm xuất hiện một số nhóm thủy sinh vật mới thích nghi. Các
    loài hoặc các nhóm loài thích nghi này thường phát triển mạnh chiếm ưu thế về số
    lượng. Đây chính là các sinh vật chỉ thị (SVCT) cho sự nhiễm bẩn môi trường. Dựa
    vào sự xuất hiện cũng như số lượng các SVCT, các thông số sinh học có thể đánh
    giá được trạng thái chất lượng môi trường thủy vực.
    Giá trị các thông số môi trường đã xác định được ở các thủy vực nghiên cứu
    được so sánh với giá trị các thông số môi trường trong Hệ thống đánh giá tổng hợp
    chất lượng nguồn nước mặt của Tăng Văn Đoàn và Trần Đức Hạ (2002); Tiêu
    chuẩn phân vùng nhiễm bẩn theo hệ thống 4 bậc của Phạm Văn Miên (2004); Tiêu
    chuẩn môi trường Việt Nam (TCVN 5943-1995) về giá trị giới hạn cho phép các
    thông số và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước biển ven bờ để đánh giá chất
    lượng môi trường.
    Đề tài xếp loại chất lượng môi trường các thủy vực theo hệ thống phân vùng
    nhiễm bẩn 4 mức của Kolkwitz & Marsson được hiệu chỉnh bởi Trần Hiếu Nhuệ và
    Trần Đức Hạ (1993) và thay đổi mức thứ 4 - mức bẩn rất nặng (Polysaprobic) thành
    mức chuyển tiếp là mức bẩn nặng ư bẩn rất nặng (αưPolysaprobic):
    1. Thủy vực bẩn nhẹ (Olygo-saprobic).
    2. Thủy vực bẩn vừa (β-mesosaprobic).
    3. Thủy vực bẩn nặng (α-saprobic).
    4. Thủy vực bẩn nặng ư bẩn rất nặng (α -Polysaprobic).
    Với mức bẩn rất nặng (Polysaprobic) thực tế trong sản xuất thủy sản hầu như
    không gặp bởi do chất lượng môi trường thủy vực quá xấu, các đối tượng nuôi
    không thể sống được.

    - 11 -
    Đặc tính thành phần loài
    - Theo vùng địa lý (theo miền):
    Căn cứ vào địa điểm xuất hiện, có thể chia thành phần thủy sinh vật vùng
    nghiên cứu thành hai nhóm:
    - Nhóm loài phân bố rộng: gồm 29 loài thực vật phù du (TVPD) và 28 loài
    động vật phù du (ĐVPD) bắt gặp trong các thủy vực nuôi thủy sản ở cả 2 vùng nghiên
    cứu Bắc Bộ và Nam Bộ.
    - Nhóm loài phân bố hẹp (theo vùng sinh thái): gồm 74 loài TVPD, 26 loài
    ĐVPD bắt gặp ở các thủy vực nuôi thủy sản ven biển Bắc Bộ, 8 loài TVPD và 10
    loài ĐVPD mới chỉ bắt gặp ở các thủy vực nuôi thủy sản ven biển Nam Bộ trong
    thời gian nghiên cứu.
    - Theo thời gian (theo mùa):
    Căn cứ vào thời gian xuất hiện của thủy sinh vật trong các thủy vực nuôi
    thủy sản, có thể chia thành 2 nhóm sau:
    - Nhóm loài phân bố quanh năm: bao gồm 34 loài TVPD, 30 loài ĐVPD và 7
    nhóm ấu trùng ĐVPD và động vật đáy (ĐVĐ) phân bố quanh năm trong các thủy
    vực nuôi thủy sản
    - Nhóm loài phân bố theo mùa: bao gồm 65 loài TVPD chỉ xuất hiện vào
    mùa mưa, 11 loài TVPD chỉ xuất hiện vào mùa khô; 15 loài và nhóm ấu trùng
    ĐVPD và ĐVĐ chỉ có mặt vào mùa mưa, 12 loài và nhóm ấu trùng ĐVPD và ĐVĐ
    chỉ có mặt vào mùa khô.
    - Theo tính chất sinh thái (phân bố theo độ muối):
    Căn cứ vào sự phân bố của thủy sinh vật trong các thủy vực nuôi thủy sản
    theo độ muối, có thể chia thành 2 nhóm sau:
    - Nhóm loài hẹp muối: bao gồm 5 loài TVPD và 9 loài ĐVPD chỉ bắt gặp
    trong các thủy vực nuôi thủy sản nước lợ nhạt và nước mặn.
    - Nhóm loài rộng muối: là thành phần chính của thủy sinh vật trong các thủy
    vực vùng ven biển và hầu hết các sinh vật này đều có nguồn gốc biển. Trong các
    thủy vực nuôi thủy sản nước lợ và nước mặn, đã thống kê được sự hiện diện của
    105 loài TVPD, 46 loài ĐVPD và 9 nhóm ấu trùng của ĐVPD và ĐVĐ phân bố ở
    nhiều loại thủy vực nuôi.
    - Theo phân mức ô nhiễm:

    - 12 -
    Sự phân bố của thủy sinh vật theo các mức ô nhiễm biểu hiện khả năng
    chống chịu và thích ứng của thủy sinh vật khi điều kiện môi trường thay đổi.
    Ngoại trừ mức bẩn nhẹ (do số lượng các thủy vực quan trắc ở mức này còn
    ít), xu hướng chung là số lượng taxon các bậc phân loại của thủy sinh vật giảm dần
    theo mức ô nhiễm. Tổng số loài của 5 ngành TVPD bắt gặp trong các thủy vực nuôi
    thủy sản là 84 loài thuộc 43 chi, 27 họ ở mức bẩn vừa; giảm xuống còn 58 loài
    thuộc 33 chi, 25 họ ở mức bẩn nặng và chỉ còn 12 loài thuộc 9 chi , 6 họ ở mức bẩn
    nặng - bẩn rất nặng.
    Trong các thủy vực nuôi thủy sản mức bẩn vừa có sự hiện diện của 51 loài
    thuộc 37 giống, 26 họ của 4 ngành ĐVPD là Aschelminthes, Arthropoda,
    Chaetognatha, Protochordata và 9 nhóm ấu trùng của ĐVPD và ĐVĐ. Các thủy
    vực nuôi thủy sản có mức bẩn nặng, số lượng ĐVPD bắt gặp còn 16 loài thuộc 12
    giống, 12 họ của 2 ngành Aschelminthes, Arthropoda và 4 nhóm ấu trùng của
    ĐVPD và ĐVĐ. Số lượng taxon các bậc phân loại của ĐVPD giảm sút nghiêm
    trọng ở mức bẩn nặng - bẩn rất nặng, chỉ còn 7 loài thuộc 5 giống, 5 họ thuộc 2
    ngành Aschelminthes và Arthropoda. Nhóm ấu trùng ĐVPD và ĐVĐ phong phú ở
    mức bẩn vừa, giảm sút ở mức bẩn nặng và hầu như mất hẳn trong mức bẩn nặng -
    bẩn rất nặng.
    Bảng 4. Đề xuất các chỉ số sinh học theo phân mức chất lượng môi
    trường thủy vực vùng cửa sông
    TT Chỉ số mức môi
    trường
    S H’ D N
    1 Sạch (không nhiễm
    bẩn) *
    > 22 3,5 - 5,0 ≤ 0,1
    2 Bẩn nhẹ (Oly) 15 - 22 2,5 - 3,5 0,1 - 0,3 - TVPD: hàng chục nghìn tb/lít
    -ĐVPD: hàng chục nghìn con/m 3
    3 Bẩn vừa (β) 10 - 15 1,5 - 2,5 0,3 - 0,6 - TVPD: hàng triệu tb/lít
    -ĐVPD: hàng trăm nghìn con/m
    3

    4 Bẩn nặng (α) 5 - 10 0,5 - 1,5 0,6 - 0,9 - TVPD: hàng chục triệu tb/lít
    - ĐVPD: hàng triệu con/m 3
    5 Bẩn nặngư rất nặng (α
    - Poly)
    ≤ 5 ≤ 0,5 ≥ 0,9 - TVPD: hàng trăm triệu tb/lít
    - ĐVPD: hàng chục triệu con/m 3
    Ghi chú: * Mức sạch (không nhiễm bẩn) của môi trường nuôi là mức ước
    tính hiện chưa có số liệu quan trắc II.4. Quan trắc ở sông Tô Lịch
    Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh về thành phần loài và số lượng loài
    động vật không xương sống của sông Tô Lịch cho thấy: thành phần và số lượng loài
    động vật không xương sống ở những nơi ô nhiễm nặng thường giảm mạnh so với
    các đoạn ít ô nhiễm hơn. Từ kết quả nghiên cứu trong 10 năm (1985-1995) về động
    vật không xương sống trong các thuỷ vực có nước thải vùng Hà Nội, Nguyễn Xuân
    Quýnh đã đề xuất một hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thuỷ vực có nước thải ở
    Hà Nội dựa trên một số chỉ tiêu lý hoá học, quy định sự có mặt hay vắng mặt của
    một số loài hay nhóm loài động vật không xương sống, được coi như sinh vật chỉ
    thị, quy định sự phát triển về số lượng và khối lượng của chúng ở mức độ khác
    nhau.

    Xem Thêm: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của Việt Nam - áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Nhuệ -
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của Việt Nam - áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Nhuệ - sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu
Tài liệu mới

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status