Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Nghiên cứu ảnh hưởng của nấm Trichoderma đến sinh trưởng và khả năng chống chịu bệnh trên cây cao su

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18495 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Nghiên cứu ảnh hưởng của nấm Trichoderma đến sinh trưởng và khả năng chống chịu bệnh trên cây cao su

    MỞ ĐẦU
    1. Tính cấp thiết của đề tài
    Cà phê là một mặt hàng thương mại quan trọng ở trên thị trường quốc
    tế, mặt hàng cà phê chỉ đứng sau sản phẩm dầu mỏ. Theo báo cáo mới nhất
    của ICO, sản lượng cà phê xuất khẩu toàn thế giới dao động lên xuống trong
    phạm vi khá rộng, đã tăng từ 116,2 triệu bao năm 2007 lên 134,16 triệu bao
    năm 2008 (tăng 15,4%).
    Ở Việt Nam cà phê là một trong những cây trồng chủ lực với kim
    ngạch xuất khẩu từ 1,8 - 2 tỷ USD. Việc phát triển cây cà phê đã giải quyết
    việc làm và tạo thu nhập cao cho nông dân trồng cà phê. Hiện nay cà phê là
    nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn, chỉ đứng sau lúa gạo và có tốc độ
    phát triển nhanh. Từ chỗ sản lượng và giá trị xuất khẩu không đáng kể trước
    năm 1975, sau hơn 30 năm phát triển Việt Nam là nước xuất khẩu đứng thứ 2
    thế giới và đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu cà phê vối.
    Trên 90% diện tích cà phê Việt Nam tập trung ở Tây Nguyên, trong đó
    Đăk Lăk là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất cả nước. Đến năm 2010, Đăk Lăk có
    190.765 ha cà phê, với năng suất bình quân trên 22 tạ nhân/ha (gấp 3 lần năng suất
    bình quân thế giới). Mặc dù có năng suất cao nhất thế giới nhưng ngành cà phê
    Đăk Lăk đang đối đầu với thách thức to lớn là sự mất cân bằng về nước tưới cho
    cây cà phê trong mùa khô. Toàn tỉnh Đăk Lăk có 642 công trình tưới với công
    suất thiết kế 91.324 ha và thực tế tưới được 72.555 ha, trong đó tưới cho cà phê
    46.163 ha đạt khoảng 25% diện tích cà phê và trên 75% diện tích còn lại phải sử
    dụng các nguồn nước khác. Tiết kiệm nước tưới cho cây cà phê là mối quan tâm
    hàng đầu trong chiến lược phát triển bền vững ngành cà phê Đăk Lăk.
    Do bị chi phối bởi vị trí địa lý và ảnh hưởng của gió mùa, khí hậu ở Đăk
    Lăk có mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trong
    thời kỳ này chiếm từ 12 - 16% tổng lượng mưa cả năm. Cà phê là cây lâu năm
    nhưng có bộ rễ ăn tương đối nông (trên 80% bộ rễ phân bố ở tấng đất từ 0 - 30 2
    cm) và khả năng chịu hạn kém. Vì vậy cây cà phê ở Đăk Lăk cần phải tưới bổ
    sung trong mùa khô. Mùa khô kéo dài và rõ rệt, khi được tưới nước là điều kiện
    lý tưởng để cây cà phê có thể hình thành năng suất cao do mùa khô có tác
    dụng thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, là tiền đề để có năng suất cao.
    Tưới nước trở thành một biện pháp kỹ thuật có tính quyết định đến
    năng suất cà phê ở khu vực này và nông dân có xu hướng sử dụng một lượng
    nước tưới cao, vượt quá mức yêu cầu của cây cà phê. Trong sản xuất cà phê ở
    Đăk Lăk, các kỹ thuật tưới thường được sử dụng là kỹ thuật tưới phun mưa,
    kỹ thuật tưới gốc. Riêng kỹ thuật tưới nhỏ giọt được đánh giá cao về khả năng
    tiết kiệm nước nhưng lại không phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn nở hoa
    nên ảnh hưởng đến năng suất cà phê và cho đến nay kỹ thuật này chưa được
    sử dụng trong sản xuất cà phê ở Đăk Lăk.
    Trên cơ sở cải tiến và khắc phục những nhược điểm của các kỹ thuật
    tưới hiện nay. Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước có nhiều ưu điểm là nước tưới
    được kiểm soát và phân phối trực tiếp đến từng cây nên hầu như không có tổn
    thất và bảo đảm chất lượng tưới cao, lượng nước tưới được điều chỉnh dễ
    dàng và bảo đảm đáp ứng yêu cầu nước để giúp cây cà phê nở hoa tập trung.
    Ngoài ra, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước cho phép cung cấp chất dinh
    dưỡng đến trực tiếp vào vùng hoạt động của bộ rễ thông qua nước được dẫn
    trong hệ thống đường ống lắp đặt sẵn có tác dụng hạn chế tổn thất do bay hơi,
    rửa trôi, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, tiết kiệm chi phí đầu
    vào trong sản xuất cà phê ở Đăk Lăk.
    Từ những lý do trên việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật tưới
    tiết kiệm nước và bón phân qua nước cho cây cà phê vối kinh doanh tại
    Đăk Lăk” là hết sức cần thiết và cấp bách.
    2. Mục tiêu của đề tài
    - Mục tiêu tổng quát
    Nghiên cứu kỹ thuật tưới tiết kiệm nước kết hợp bón phân qua nước 3
    cho cây cà phê nhằm tiết kiệm nước tưới, giảm chi phí đầu vào, hạn chế quá
    trình xói mòn, rửa trôi, cung cấp dinh dưỡng nuôi cây trực tiếp vào vùng rễ và
    nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón.
    - Mục tiêu cụ thể
    Xác định một số thông số kỹ thuật làm cơ sở xây dựng chế độ tưới phù
    hợp cho cây cà phê ở Đăk Lăk nhằm tiết kiệm lượng nước tưới, lượng phân
    bón, nâng cao hiệu hiệu quả sử dụng phân bón và giảm công lao động trong
    sản xuất cà phê.
    3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
    - Hiện nay tại Tây Nguyên chưa có công trình nghiên cứu tưới tiết kiệm
    nước và bón phân qua nước cho cây cà phê, do đó đề tài sẽ đóng góp cơ sở lý
    luận cho việc tưới nước.
    - Áp dụng một kỹ thuật tiên tiến (tiết kiệm nước, bón phân qua nước)
    nhưng lại sử dụng công cụ và thiết bị do Việt Nam sản xuất, giá thành rẻ nên
    phù hợp với điều kiện kinh tế của nông dân và có thể áp dụng rộng rãi trong
    sản xuất cà phê ở Tây Nguyên nói chung và Đăk Lăk nói riêng.
    4. Giới hạn của đề tài
    Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước là kỹ thuật tưới mới, được cải tiến trên cơ
    sở của kỹ thuật tưới nhỏ giọt đã được nghiên cứu và áp dụng thành công cho
    nhiều loại cây trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau.
    Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi thăm dò ảnh hưởng của lượng
    nước tưới và lượng phân bón bằng 70, 80% của sản sản xuất đến tình hình ra
    hoa, đậu quả và năng suất cà phê giai đoạn kinh doanh.
    Vì lý do khách quan, trong vụ tưới năm 2010, các thí nghiệm tưới được
    bố trí sau khi vườn cây đã tưới 2 lần bằng kỹ thuật tưới gốc. 4
    CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
    1.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
    1.1.1. Khí hậu
    * Nhiệt độ
    Tỉnh Đăk Lăk có độ cao bình quân 400 m so với mặt nước biển với tổng
    nhiệt độ 8.000 - 8.500 0 C và nhiệt độ bình quân là 23,3 - 23,5 0 C. Tháng 12 và
    tháng 1 là các tháng có nhiệt độ thấp nhất trong năm (20 - 21 0 C), các tháng 4 và
    5 có nhiệt độ cao nhất (24 - 26 0 C). Nhìn chung nhiệt độ trong năm nằm trong
    phạm vi nhiệt độ thích hợp cho cây cà phê vối từ 22 - 26 0 C. Biên độ giao động
    nhiệt ngày và đêm khá lớn, từ 10 - 15 0 C vào các tháng mùa mưa và trên 15 0 C
    vào các tháng mùa khô, đây là yếu tố thuận lợi cho quá trình tích luỹ chất khô và
    các hương thơm cần thiết trong sản phẩm cà phê. Các tháng 1 và 2 có nhiệt độ
    thấp là điều kiện quan trọng để thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa.
    Nhiệt độ ở Đăk Lăk chẳng những thích hợp cho sinh trưởng, phát triển
    của cây cà phê vối mà còn thuận lợi cho việc hình thành sản phẩm có chất
    lượng cao.
    * Chế độ mưa
    Khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo nên 2 mùa tương phản nhau rõ rệt đó là
    mùa mưa và mùa khô. Mùa khô thường bắt đầu vào tháng 11 và kéo dài đến
    hết tháng 4 năm sau. Gió mùa Đông Bắc đổ bộ vào đất liền khi gặp dãy
    Trường Sơn gây mưa ở các tỉnh ven biển miền Trung, sau đó trở thành khô
    hanh ở Đăk Lăk tạo thành mùa khô với những đặc trưng như ít mây, nhiều
    nắng, gió mạnh, bốc hơi nhiều và tình trạng khô hạn kéo dài. Lượng mưa ở
    các tháng mùa khô chỉ chiếm từ 10 - 12% tổng lượng mưa của cả năm vì vậy
    mùa khô là một trở ngại trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây ngắn ngày
    và một số cây lâu năm có bộ rễ ăn nông, đòi hỏi phải tưới nước.
    Đối với cây cà phê thì thời gian khô hạn 4 - 5 tháng trong năm vừa là
    điều kiện hạn chế sinh trưởng, vừa là điều kiện thuận lợi để đạt được năng 5
    suất cao nếu được tưới nước đầy đủ. Khô hạn sẽ tạo điều kiện để cây cà phê
    ra hoa tập trung, tưới nước đầy đủ giúp cà phê đậu quả thuận lợi nhờ vậy đạt
    được năng suất cao.
    * Ẩm độ không khí
    Nhìn chung ẩm độ không khí vùng Đăk Lăk hoàn toàn phù hợp với sinh
    trưởng và phát triển của cây cà phê vối. Ẩm độ bình quân cả năm trên 82% và
    không có tháng nào dưới 72%. Các tháng mùa khô ẩm độ tương đối thấp (72 -
    80%) có tác dụng thúc đẩy quá trình bốc thoát hơi nước và làm tăng thêm tính
    khốc liệt của mùa khô nhưng trong điều kiện có tưới thì đây lại là điều kiện
    thuận lợi cho quá trình phân hoá mầm hoa và thụ phấn của cây cà phê vối.
    * Gió
    Cây cà phê vối có nguồn gốc nguyên thuỷ từ vùng rừng nhiệt đới nên
    thích hợp với môi trường nóng ẩm và im gió, yêu cầu gió nhẹ có vận tốc dưới 2
    m/s. Vận tốc gió bình quân cả năm ở Đăk Lăk (khoảng 2,3 m/s) tương đối phù
    hợp với yêu cầu của cây. Tuy nhiên, trong những tháng đầu mùa khô thường có
    gió mạnh với vận tốc trên 3 m/s, gây ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và năng
    suất của cà phê nếu không có biện pháp trồng cây đai rừng, cây chắn gió.
    1.1.2. Đất đai
    Tính đến năm 2007 có 180.000 ha cà phê được trồng trên đất đỏ bazan.
    Đất bazan được coi là loại đất lý tưởng để trồng cà phê, với đặc tính vật lý
    thích hợp như cấu tượng đoàn lạp bền vững, độ tơi xốp cao, thoát nước
    nhanh. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy cây cà phê trồng trên đất đỏ
    bazan không những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn làm tăng thêm độ
    phì và bảo vệ được đất không xói mòn.
    Tóm lại, điều kiện tự nhiên ở Đăk Lăk rất thuận lợi cho sinh trưởng và
    phát triển của cây cà phê ngoại trừ yếu tố hạn chế đó là mùa khô kéo dài và trở
    ngại này có thể khắc phục bằng biện pháp tưới nước bổ sung trong mùa khô. 6
    1.2. Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới và ở Việt Nam
    1.2.1. Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
    Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích trên 10
    triệu ha và sản lượng hàng năm biến động trên dưới 7 triệu tấn.
    Thị trường cà phê trên thế giới biến động rất lớn về giá cả do ảnh
    hưởng bởi nguồn cung và tình trạng đầu cơ. Năm 1994 do những đợt sương
    muối và sau đó là hạn hán diễn ra ở Brazil đã làm cho sản lượng cà phê của
    nước này giảm xuống gần 50% và khiến giá cà phê tăng vọt, giá cà phê xuất
    khẩu tại Việt Nam tăng từ 909 USD/tấn năm 1993 lên đên 1.969 USD/tấn
    năm 1994 [12].
    Sản lượng cà phê quốc tế không ngừng tăng lên từ mức 90 triệu bao
    trong năm 1980 lên 110 triệu bao vào cuối năm 1990 và những năm đầu thế
    kỷ. Sản lượng cà phê gia tăng chủ yếu từ 2 khu vực sản xuất cà phê lớn của
    thế giới, đó là châu Mỹ và châu Á. Đặc biệt là trong những năm qua diện tích
    và sản lượng cà phê của Brazin tăng mạnh.
    Tổng sản lượng cà phê của các nước sản xuất cà phê chủ yếu theo báo
    cáo ban đầu của ICO đã tăng từ 116,2 triệu bao năm 2007 lên 134,16 triệu bao
    năm 2008, tăng 15,44%. Trong đó sản lượng cà phê Arabica tăng từ 71,10
    triệu bao năm 2007 lên 84,90 triệu bao năm 2008, tăng 19,08%. Cà phê
    Robusta tăng từ 44,9 triệu bao năm 2007 lên 49,2 triệu bao năm 2008, tăng
    9,66%. Lượng cà phê tiêu thụ trên thế giới không ngừng tăng cao. Lượng tiêu
    dùng qua các năm từ 2003 đến năm 2007 từ 112,9 triệu bao lên
    118,47;118,39;121,4 rồi 125,08 triệu bao. Tỷ lệ tăng trưởng bình quân mỗi
    năm từ năm 2000 là trên 2,5% [12].
    Theo thống kê của ICO trong những niên vụ gần đây lượng cung cà phê
    từ 3 nước sản xuất cà phê hàng đầu thế giới là Brazin, Việt Nam và Colombia
    đã chiếm trên 60% tổng lượng cung cà phê trên thị trường quốc tế. Vụ cà phê
    2009/2010 tổng lượng xuất khẩu của Brazil là 39.470 ngàn bao, Indonesia 7
    lượng xuất khẩu tháng 3 năm 2010 giảm 35% so với mức 205.383 bao cùng
    kỳ vụ trước, tháng 4 xuất khẩu đạt 203.116 bao 60 kg, giảm 28% so với cùng
    kỳ năm trước [5].
    Bảng 1: Sản lượng cà phê arabica và robusta trên thế giới
    Đơn vị: ngàn bao (60kg/bao)
    Năm 2006 2007 2008 2009
    Tổng sản lượng cà phê
    ở một số nước chủ yếu
    129.138 119.396 128.183 123.564
    Trong đó:
    Cà phê arabica
    - Khối lượng: 80.674 73.016 78.721 73.324
    - %: 62,47 61,15 61,41 59,34
    Cà phê robusta
    - Khối lượng: 48.465 46.380 49.462 50.241
    - %: 37,53 38,85 38,59 40,66
    Nguồn: ICO
    1.2.2. Tình hình sản xuất cà phê ở Việt Nam
    Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1857. Người Pháp đã
    mang cây cà phê Arabica từ đảo Bourbon sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau
    đó mở rộng sang các vùng khác. Khi đó, hầu hết cà phê được xuất khẩu sang
    Pháp dưới thương hiệu "Arabica du Tonkin" [4].
    Đầu thế kỷ 20, cây cà phê được trồng ở một số đồn điền người Pháp tại
    Phủ Quỳ (Nghệ An) và một số nơi ở Tây Nguyên với diện tích không quá vài
    nghìn ha. Năm 1930, Việt Nam có khoảng 7.000 ha cà phê. Trong thời kỳ
    những năm 1960 - 1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường
    quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (năm 1964 - 1966) đã đạt tới
    hơn 20.000 ha. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, tổng diện tích cà phê 8
    Việt Nam chỉ còn khoảng 19.000 ha [4].
    Nhờ vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước Liên Xô
    (cũ), CHDC Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Ba Lan, cây cà phê bắt đầu được
    chú trọng đầu tư, đặc biệt ở các tỉnh Tây Nguyên. Năm 1980, Việt Nam xuất
    khẩu khoảng 6000 tấn cà phê với diện tích khoảng 23 nghìn ha. Bản kế hoạch
    ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có
    khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn.
    Hiện nay Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê đứng thứ hai thế
    giới. Đặc biệt trong 15 năm qua (1995 - 2009), diện tích cà phê biến động
    mạnh theo diễn biến của giá cà phê trên thị trường.
    Giai đoạn 1995 - 1999 giá cà phê ở mức cao trên 1200 USD/tấn, đặc
    biệt năm 2005 đạt đỉnh cao bình quân 2640 USD/tấn đã kích thích người dân
    mở rộng diện tích rất nhanh từ 186 ngàn ha năm 1995 lên gần 400 ngàn ha
    năm 1999 (tăng 2,1 lần). Riêng năm 1997 đạt 24,1 tạ/ha, sản lượng bình quân
    đạt 387 ngàn tấn/năm. Sản lượng xuất khẩu bình quân đạt 406 ngàn tấn và giá
    trị xuất khẩu đạt bình quân là 432 triệu USD/năm.
    Giai đoạn 2000 - 2005 giá cà phê giảm và ở mức thấp dưới 1000
    USD/tấn, thậm chí các năm 2001, 2002 chỉ đạt bình quân dưới 500 USD/tấn,
    diện tích cà phê giảm dần từ 562 ngàn ha năm 2000 xuống 488 ngàn ha năm
    2006, giảm 73 ngàn ha, bình quân giảm 12 ngàn ha/năm. Người sản xuất hạn
    chế đầu tư thâm canh nên năng suất giảm mạnh bình quân chỉ đạt 16,7 tạ/ha,
    giảm 5,3 tạ/ha, sản lượng bình quân đạt 784 ngàn tấn, tăng 400 ngàn tấn gấp 2
    lần so bình quân giai đoạn 1995 - 1999. Sản lượng xuất khẩu bình quân đạt
    814 ngàn tấn, giá trị xuất khẩu đạt bình quân 485 triệu USD/năm tăng 12% so
    với giai đoạn trước.
    Giai đoạn 2006 - 2009, mặc dù Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát
    triển nông thôn khuyến cáo giữ ổn định diện tích nhưng do giá cà phê tăng trở
    lại và đạt mức trên 2000 USD/tấn vào năm 2008 người dân vẫn tiếp tục mở 9
    rộng diện tích, người dân tiếp tục đầu tư thâm canh nên năng suất được phục
    hồi đạt bình quân 19,6 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha (17,3%), sản lượng bình quân đạt
    967 ngàn tấn/năm, tăng 180 ngàn tấn (23,3%) so với giai đoạn 2000 - 2005.
    Sản lượng xuất khẩu bình quân đạt 1081 ngàn tấn, năm xuất khẩu cao nhất là
    2008 đạt trên 2,1 tỷ USD. Kể từ năm 2007, sản lượng cà phê xuất khẩu vượt
    mức 1 triệu tấn/ năm và trong những năm gần đây sản lượng xuất khẩu của
    năm sau đều cao hơn năm trước do giá cà phê được cải thiện đáng kể (trên
    2000 USD/tấn) [7].
    Bảng 2: Diễn biến giá và sản xuất, xuất khẩu cà phê giai đoạn 2000-2009
    Chi tiêu ĐVT 2000 2004 2005 2006 2007 2008 2009
    Giá bình quân USD/tấn 823 658 627 1227 1503 1993 1474
    DT gieo trồng 1000 ha 562,0 503,2 497,4 488,7 506,4 525,1 537,0
    DT cho sản phẩm 1000 ha 477,0 491,9 483,6 481,2 487,9 500,2 504,1
    Năng suất Tạ/ha 16,8 17,4 15,6 17,7 19,7 19,9 20,7
    S.L cà phê nhân 1000 tấn 802,0 834,6 752,1 853,5 961,2 996,31.045,1
    Lượng xuất khẩu 1000 tấn 654,0 936 770 870 1194 1066,4 1168,0
    Kim ngạch XK Tr.USD 538,0 616 735,5 1101,0 1854 2,110 1710,0
    Nguồn: Cục Trồng trọt
    1.3. Yêu cầu sinh thái của cây cà phê vối
    Cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới có yêu cầu điều kiện sinh thái khắt
    khe đối với từng loại cà phê. Nắm vững yêu cầu sinh thái không những để
    quy hoạch vùng trồng thích hợp mà còn để xây dựng các biện pháp kỹ thuật
    canh tác nhằm hạn chế tối đa những điều kiện bất thuận của các yếu tố tự
    nhiên, khí hậu tại vùng đó.
    Trong hai yếu tố sinh thái chính là khí hậu và đất đai thì yếu tố khí hậu 10
    mang tính quyết định, vì yếu tố khí hậu khó thay đổi. Các biện pháp kỹ thuật
    canh tác cũng chỉ ít nhiều hạn chế bớt tác hại của nó chứ không làm thay đổi
    được. Nên khi quy hoạch vùng trồng cà phê phải đặc biệt quan tâm xem xét
    đến các yếu tố khí hậu trước rồi mới đến yếu tố đất đai.
    ã Yêu cầu khí hậu
    - Nhiệt độ
    Trong các yếu tố khí hậu, nhiệt độ là yếu tố mang tính giới hạn đối với
    sinh trưởng và phát triển của cà phê.
    Đối với cà phê vối cần nhiệt độ thích hợp từ 20 - 30 0 C, thích hợp nhất
    từ 24 - 26 0 C. Cà phê vối chịu rét rất kém, ở nhiệt độ 7 0 C cây đã ngừng sinh
    trưởng và từ 5 0 C trở xuống cây bắt đầu bị gây hại nghiêm trọng.
    Sự chênh lệch về nhiệt độ giữa các tháng trong năm cũng như biên độ
    nhiệt giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đặc biệt là hương
    vị của hạt cà phê. Ở những vùng vào giai đoạn hạt cà phê được hình thành và
    tích luỹ chất khô, nhiệt độ càng xuống thấp và chênh lệch biên độ giữa ngày
    và đêm càng cao thì chất lượng cà phê càng cao.
    - Lượng mưa
    Sau nhiệt độ, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu quyết định
    đến khả năng sinh trưởng, năng suất và kích thước của hạt cà phê và quá trình
    phân hoá mầm hoa. Tình trạng nước trong cây ảnh hưởng đến tính ngủ nghỉ của
    chồi hoa, kích thích sự tái tăng trưởng trở lại của chồi hoa, quá trình nở hoa và
    tăng trưởng về kích thước của vỏ thóc tình trạng nước ở trong cây lại phụ
    thuộc chủ yếu vào lượng mưa và sự phân bố của nó vào các tháng trong năm.
    Nhìn chung cây cà phê cần một lượng mưa cả năm khá cao và phân bố
    đồng đều giữa các tháng trong năm nhưng phải có thời gian khô hạn tối thiểu
    từ 2 - 3 tháng. Thời gian khô hạn này chính là yếu tố quyết định đến quá trình
    phân hoá mầm hoa ở cây cà phê. 11
    Cây cà phê vối ưa thích với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở những vùng có
    cao độ thấp nên cần có một lượng mưa trong năm khá cao từ 1.500 - 2000 mm
    và phân bố đồng đều trong khoảng 9 tháng. Cà phê vối là cây thụ phấn chéo bắt
    buộc nên ngoài yêu cầu phải có một thời gian khô hạn ít nhất là 2 - 3 tháng sau
    giai đoạn thu hoạch để phân hoá mầm hoa, giai đoạn lúc cây nở hoa yêu cầu
    phải có thời tiết khô ráo, không có mưa để quá trình thụ phấn được thuận lợi.
    So với cà phê chè và cà phê mít thì cà phê vối có sức chịu hạn kém nhất.
    - Ẩm độ không khí
    Ẩm độ không khí có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của
    cây trồng vì nó liên quan trực tiếp đến quá trình bốc thoát hơi nước của cây.
    Ẩm độ không khí thích hợp cho cây cà phê vối là trên 80%. Ẩm độ không khí
    cao sẽ làm giảm sự mất nước của cây qua quá trình bốc thoát hơi nước. Tuy
    nhiên nếu ẩm độ không khí quá cao cũng là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại
    sâu bệnh hại phát triển. Ngược lại nếu ẩm độ không khí quá thấp làm cho quá
    trình bốc thoát nước tăng lên rất mạnh làm cho cây bị thiếu nước và héo, đặc
    biệt là trong những tháng mùa khô có nhiệt độ cao và tốc độ gió lớn. Ngoài
    ẩm độ không khí, quá trình bốc thoát hơi nước qua lá cà phê còn phụ thuộc
    vào tốc độ gió, nhiệt độ môi trường, ẩm độ đất
    - Ánh sáng
    Trong điều kiện tự nhiên, tổ tiên của các loại cà phê điều sinh sống
    dưới những tán rừng, vì vậy bản chất của cây cà phê là một cây ưa che bóng.
    Tuy nhiên trong quá trình được trồng trọt và chọn lọc, nhiều giống cà phê đã
    thích nghi dần với môi trường mới không có che bóng.
    Ở những vùng có độ cao trên 800 m so với mặt biển, nhiệt độ thấp hơn
    nên không nhất thiết phải trồng cây che bóng. Ngược lại ở những vùng có độ
    cao thấp, nhiệt độ cao, ánh sáng nhiều nhất thiết phải có cây che bóng, cây
    che bóng ở những vùng này không chỉ có tác dụng điều hoà nhiệt độ trong
    vườn, giảm quá trình bốc thoát hơi nước mà còn làm hạn chế khả năng phát

    Xem Thêm: Nghiên cứu ảnh hưởng của nấm Trichoderma đến sinh trưởng và khả năng chống chịu bệnh trên cây cao su
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của nấm Trichoderma đến sinh trưởng và khả năng chống chịu bệnh trên cây cao su sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status