Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18495 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004

    MỤC LỤC
    Trang
    MỞ ĐẦU 1
    Chương 1: ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐĂKLĂK VỀ CÔNG
    TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC-KỸ THUẬT NGƯỜI
    DÂN TỘC THIỂU SỐ (1996-2004) 7
    1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Đăklăk 7
    1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo cán bộ
    khoa học-kỹ thuật người dân tộc thiểu số 14
    1.3. Sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Đăklăk về đào tạo cán bộ khoa
    học-kỹ thuật người dân tộc thiểu số 29
    Chương 2: KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẢNG
    BỘ TỈNH ĐĂKLĂK LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
    CÁN BỘ KHOA HỌC-KỸ THUẬT NGƯỜI DÂN TỘC
    THIỂU SỐ (1996-2004) 46
    2.1. Kết quả và nguyên nhân của những thành công và hạn chế 46
    2.2. Kinh nghiệm lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học-kỹ thuật
    người dân tộc thiểu số 71
    KẾT LUẬN 87
    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
    CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
    CNXH : Chủ nghĩa xã hội
    DTTS : Dân tộc thiểu số
    GDĐT : Giáo dục và đào tạo
    KHKT : Khoa học-kỹ thuật
    XHCN : Xã hội chủ nghĩa
    UBND : Ủy ban nhân dân DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
    Trang
    Bảng 2.1: Học sinh ĐăkLăk theo học dự bị Đại học Dân tộc Trung
    ương Nha Trang từ 1999-2004 48
    Bảng 2.2: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên
    phân theo giới tính và trình độ đào tạo năm 2004 56
    Bảng 2.3: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên phân
    theo hình thức đào tạo và nơi đào tạo năm 2004 57
    Bảng 2.4: Số lượng cán bộ KHKT qua các năm 58
    Bảng 2.5: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên
    phân theo thành phần dân tộc năm 2004 59
    Bảng 2.6: Cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên là người DTTS phân
    theo giới tính và trình độ đào tạo năm 2008-2009 60
    Bảng 2.7: Cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên là người DTTS
    phân theo chuyên ngành đào tạo năm 2008-2009 61 1
    MỞ ĐẦU
    1. Tính cấp thiết của đề tài
    Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định
    vấn đề dân tộc là một trong những vấn đề có tính chiến lược của cách mạng
    và thực hiện chính sách dân tộc với những nguyên tắc cơ bản là: “Bình
    đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển”. Biểu hiện của
    nguyên tắc đó trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH là việc tập trung xây
    dựng vùng dân tộc và miền núi phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa, xã hội,
    vững mạnh về chính trị, an ninh-quốc phòng, xứng đáng với vị trí chiến
    lược đặc biệt quan trọng của cả nước.
    Để đưa vùng dân tộc và miền núi phát triển nhanh và bền vững tiến kịp
    miền xuôi, làm cho đồng bào DTTS được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những
    quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa thì vấn đề có ý nghĩa quyết định là
    phải có đội ngũ cán bộ. Việt Nam đang ở trong thời kỳ phát triển mới - thời
    kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH do đó KHKT là một nguồn lực quan trọng của sự
    nghiệp CNH, HĐH. Điều này khẳng định, vận hội cũng như nguy cơ của
    vùng dân tộc và miền núi gắn liền với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
    cán bộ DTTS nói chung và cán bộ KHKT người DTTS nói riêng đủ về số
    lượng đảm bảo về chất lượng. Chính đội ngũ cán bộ này là lực lượng nòng
    cốt, hạt nhân đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi
    vào cuộc sống, lãnh đạo đồng bào các DTTS từng bước làm chủ quá trình
    phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Họ đem sự hiểu biết KHKT của mình
    truyền bá rộng rãi cho đồng bào DTTS. Họ là những chiến sỹ trên mặt trận tư
    tưởng, văn hóa và KHKT; góp tài góp sức để cải tiến bộ mặt xã hội của vùng
    đồng bào DTTS, làm cho đồng bào mình sản xuất và công tác theo khoa học
    và đời sống của chính họ được văn minh. Cán bộ KHKT người DTTS còn là
    cầu nối giữa đảng và dân, là một trong những “kênh” làm cho Đảng gắn bó 2
    với dân, gần gũi với dân. Vai trò của cán bộ KHKT người DTTS không chỉ
    thể hiện trong phát triển kinh tế mà còn đảm bảo cho việc giữ vững an ninh-
    quốc phòng.
    ĐăkLăk là một tỉnh miền núi thuộc Tây Nguyên, tại thời điểm trước khi
    chia tách thành hai tỉnh (ĐăkLăk và ĐăkNông) có 44 dân tộc anh em chung
    sống, chiếm 29,5% tổng dân số cả tỉnh, trong đó 19,31% là đồng bào DTTS
    tại chỗ. ĐăkLăk có một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, an
    ninh và quốc phòng.
    Quán triệt chính sách dân tộc của Đảng cũng như nhận thức được tầm
    quan trọng của KHKT đối với sự phát triển của tỉnh, trong quá trình lãnh đạo
    Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk đã tập trung chỉ đạo công tác đào tạo cán bộ KHKT
    người DTTS nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh để
    đưa đồng bào các dân tộc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước xây dựng
    cuộc sống văn minh, hạnh phúc, góp phần xây dựng CNXH và đảm bảo quốc
    phòng, an ninh. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ rất khó khăn, từ năm 1996-2004 ở
    ĐăkLăk đã diễn ra hai cuộc bạo loạn chính trị năm 2001 và 2004, điều đó bộc
    lộ một số tồn tại, yếu kém trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở ĐăkLăk
    mà trước hết là sự yếu kém về đội ngũ cán bộ DTTS nói chung và cán bộ
    KHKT người DTTS nói riêng.
    Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo
    cán bộ KHKT người DTTS một cách khoa học, đúng đắn và toàn diện sẽ giúp
    chúng ta rút ra được những kinh nghiệm có tính khả thi để lãnh đạo, chỉ đạo việc
    đào tạo nguồn nhân lực này một cách có hệ thống nhằm phục vụ sự nghiệp CNH,
    HĐH bảo đảm cho chính trị, an ninh-quốc phòng được giữ vững, từng bước nâng
    cao chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần cho đồng bào DTTS.
    Xuất phát từ những lý do trên, Tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk
    lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật người dân tộc thiểu
    số từ năm 1996 đến 2004” làm luận văn tốt nghiệp. 3
    2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
    Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến đề tài như:
    - Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (1996), Chiến lược CNH,
    HĐH đất nước và cách mạng công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    - TS. Trịnh Quang Cảnh (2005), Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các
    dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, Nxb Chính trị
    quốc gia, Hà Nội.
    - PGS.TS. Trương Minh Dục (2005), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
    về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    - GS.TS. Lê Hữu Nghĩa (2001), Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán
    bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên,
    Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    - PTS. Danh Sơn (1999), Quan hệ giữa phát triển khoa học công nghệ
    với phát triển kinh tế-xã hội trong CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã
    hội, Hà Nội.
    - Ủy Ban khoa học xã hội Việt Nam, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân
    ĐăkLăk (1990), Vấn đề phát triển kinh tế xã hội các dân tộc thiểu số ở
    ĐăkLăk, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
    - TS. Lê Phương Thảo, PGS, TS. Nguyễn Cúc, TS. Doãn Hùng (2005),
    Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh
    CNH, HĐH - Luận cứ và giải pháp, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
    Một số luận văn, luận án chuyên ngành Triết học, Lịch sử có bàn đến
    nội dung của đề tài:
    - Trịnh Quang Cảnh (2002), Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam
    trong công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc), Luận án
    tiến sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
    - Phạm Ngọc Đại (2008), Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân
    tộc của Đảng bộ các tỉnh Nam Tây Nguyên từ năm 2001-2006, Luận văn thạc
    sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 4
    - Lê Nhị Hòa (2002), Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo xây dựng đội ngũ
    cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị cấp cơ sở thời kỳ đổi mới
    (1986-2000), Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
    Minh, Hà Nội.
    - Phạm Đức Kiên (2006), Đảng lãnh đạo công tác đào tạo đội ngũ cán
    bộ khoa học, kỹ thuật ở miền Bắc 1960-1975, Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Học
    viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
    - Nguyễn Thị Tứ (1993), Mấy vấn đề chủ yếu của chính sách giáo dục
    và đào tạo đối với các đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, Luận
    văn thạc sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
    Bài viết của nhiều tác giả được đăng tải trên các tạp chí như:
    - Đặng Ngọc Dinh (1998), “Vấn đề định hướng chiến lược phát triển
    khoa học công nghệ nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 35.
    - Lại Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Mỹ Trang (2005), “Chính sách cử tuyển
    - Một chủ trương đúng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về
    phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số”, Tạp chí
    Dân tộc học, (2), tr. 27.
    - Nguyễn Đình Hòa (2004), “Vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát
    triển của xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, (21), tr. 31.
    - GS.VS. Đặng Hữu (1990), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
    khoa học-công nghệ”, Tạp chí Cộng sản, (8), tr. 2.
    - Nguyễn Hữu Ngà (2005), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dân tộc
    thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, Tạp chí Dân tộc học, (3), tr. 50.
    - Vũ Thị Hoài Nghiêm (2008), “Phát triển giáo dục và đào tạo trong
    vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, Tuyên giáo, (2), tr. 44.
    Những tài liệu nêu trên chỉ đề cập đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ
    người DTTS nói chung ở các cấp và các địa phương khác nhau, cũng như vai
    trò của khoa học kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay, chưa có công trình khoa 5
    học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk đối với công tác
    đào tạo cán bộ KHKT người DTTS từ năm 1996-2004. Tuy nhiên, những
    công trình khoa học, bài viết kể trên là cơ sở để tác giả tham khảo và kế thừa
    trong việc thu thập, xử lý nguồn tài liệu và phương pháp luận trong quá trình
    thực hiện đề tài.
    3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
    Mục đích
    Tổng kết những kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn có thể
    bước đầu vận dụng vào việc xây dựng nguồn nhân lực cán bộ KHKT người
    DTTS trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ
    đẩy mạnh CNH, HĐH.
    Nhiệm vụ
    - Trình bày một số quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng
    sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk về công tác đào tạo cán bộ KHKT người
    DTTS từ năm 1996 đến 2004.
    - Phân tích và làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk chỉ đạo
    công tác đào tạo cán bộ KHKT người DTTS thời kỳ 1996-2004.
    - Nêu lên những thành tựu, hạn chế và tổng kết kinh nghiệm của Đảng
    bộ trong quá trình lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ KHKT người DTTS ở
    tỉnh ĐăkLăk thời kỳ 1996-2004.
    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
    Thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2004.
    Nội dung: Đường lối lãnh đạo và tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác
    đào tạo cán bộ KHKT người DTTS.
    Địa bàn khảo sát chủ yếu: 2 cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk là
    Trường Đại học Tây Nguyên và Trường Cao đẳng Sư phạm; cán bộ KHKT
    người DTTS có trình độ từ cao đẳng trở lên đang công tác tại các sở, ban,
    ngành, viện, trường, các tổ chức, đoàn thể xã hội, doanh nghiệp trên địa bàn
    tỉnh ĐăkLăk (trừ các đơn vị lực lượng vũ trang). 6
    5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
    5.1. Cơ sở lý luận
    Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối
    của Đảng về chính sách dân tộc, cán bộ dân tộc và KHKT, cán bộ KHKT.
    5.2. Phương pháp nghiên cứu
    Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,
    kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành như thống kê,
    so sánh, đồng đại, lịch đại, phân tích, tổng hợp
    6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
    - Giải đáp những vấn đề còn tồn tại trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
    của Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk về công tác đào tạo cán bộ DTTS và cán bộ KHKT
    người DTTS - Một vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều.
    - Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính
    sách của Tỉnh ủy, UBND tỉnh ĐăkLăk nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nói
    chung về công tác đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS.
    7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
    - Tổng kết những kinh nghiệm có tính định hướng để nâng cao nhận
    thức, chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo cán bộ DTTS nói chung và
    cán bộ KHKT người DTTS nói riêng ở ĐăkLăk.
    - Kết quả của luận văn góp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy các
    chuyên đề của môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    8. Kết cấu của luận văn
    Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
    gồm 2 chương, 5 tiết. 7
    Chương 1
    ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐĂKLĂK VỀ CÔNG TÁC
    ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC - KỸ THUẬT
    NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ (1996-2004)
    1.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI
    CỦA TỈNH ĐĂKLĂK
    Tỉnh ĐăkLăk nằm ở phía Tây Nam của dãy Trường Sơn, phía Bắc
    giáp với tỉnh GiaLai; phía Nam giáp với hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Phước;
    phía Đông giáp với hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Tây giáp với Vương
    quốc Cămpuchia. ĐăkLăk có nhiều tuyến giao thông quan trọng nối liền với
    các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung, miền Đông Nam Bộ và tỉnh
    Munđunkiri (Cămpuchia).
    ĐăkLăk nằm ở trung tâm Cao Nguyên, với diện tích là 13.125 km 2 và ở
    độ cao trung bình là 500m so với mặt nước biển, trong đó diện tích đất lâm
    nghiệp có 1.019.847ha, đất nông nghiệp diện tích 28.906ha, đất trồng cây lâu
    năm 160.488ha và hàng vạn hécta đồng cỏ, có nhiều cánh đồng cỏ chạy dài,
    nhiều đầm hồ rộng lớn (lớn nhất là hồ Lăk với diện tích 750ha, hồ EaSoup với
    diện tích 400ha), Hệ thống sông suối ở ĐăkLăk khá phong phú, lớn nhất là
    sông Sêrêpốc. Do đó, tiềm năng thủy điện cũng là một thế mạnh của ĐăkLăk.
    Việc xây dựng các công trình thủy điện sẽ làm tăng sản lượng điện, góp phần
    phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu trên địa bàn tỉnh theo hướng tăng dần tỷ
    trọng công nghiệp, tạo tiền đề cho giao thông phát triển, giao lưu văn hóa xã hội,
    cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho
    đồng bào các dân tộc. Quan trọng nhất là nó mở ra cơ hội cho các dân tộc tiếp
    xúc với đời sống hiện đại và dần từng bước xóa bỏ các thủ tục lạc hậu.
    Vùng Cao Nguyên Buôn Ma Thuột và các khu vực phụ cận có địa hình
    tương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu. Diện tích đất đỏ bazan ở ĐăkLăk có
    hơn 704.000ha, có diện tích rừng và đất rừng lớn nhất đất nước với 8
    1.215.000ha (chiếm 62,2% diện tích đất tự nhiên), có nhiều tài nguyên sinh
    vật phong phú, đa dạng như Vườn Quốc gia YokĐôn; Với thế mạnh về tài
    nguyên đất đai, rừng, lâm sản, ĐăkLăk là vùng đất phù hợp cho phát triển cây
    công nghiệp dài ngày, đặc biệt là các loại cây có giá trị xuất khẩu cao như cao
    su, cà phê chăn nuôi đại gia súc và kinh doanh tổng hợp nghề rừng.
    Khí hậu ở ĐăkLăk tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình hàng năm là
    24 0 C. Lượng chiếu sáng dồi dào với cường độ tương đối ổn định, lượng mưa
    trung bình 1700 - 2000mm/ năm. Độ ẩm trung bình 81%, khí hậu phân thành
    hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm trên 70% lượng mưa
    cả năm, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng
    4, độ ẩm giảm, gió đông bắc thổi mạnh từ cấp 4 đến cấp 6, lượng bốc hơi lớn
    gây ra khô hại nghiêm trọng. Vì vậy, yếu tố giữ và cấp nước trong mùa khô
    có vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
    ĐăkLăk là tỉnh còn trữ lượng lớn tài nguyên, khoáng sản chưa được
    khai thác nhiều như: chì, vàng, sét cao lanh, than bùn, nhưng đáng kể nhất
    là quặng bôxít tự nhiên có trữ lượng khoảng 5,4 tỷ tấn với hàm lượng ôxít
    nhôm khoảng 35-40%, sét cao lanh trữ lượng 60 triệu tấn phân bổ ở Ma’Đrắc,
    Buôn Ma Thuột, Sét làm ngói trữ lượng trên 50 triệu tấn tập trung ở huyện
    KrôngAna, Buôn Ma Thuột, Ma’Đrắc và nhiều nơi khác trong tỉnh. Ngoài ra
    còn có các khoáng sản khác như: vàng ở huyện EaKar, chì ở huyện EaH’leo,
    phốtpho ở Buôn Đôn, than bùn chủ yếu ở CưM’Gar cùng các loại đá quý, đá
    ốp lát, cát đá xây dựng có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.
    Điều kiện tự nhiên vốn có đã tạo ra thế mạnh cho tỉnh ĐăkLăk, nhưng
    do trình độ còn nhiều hạn chế, nên các DTTS bản địa đã không khai thác
    được thế mạnh phục vụ cho cuộc sống mà chủ yếu vẫn là dựa vào săn bắt, hái
    lượm những sản phẩm sẵn có trong tự nhiên và canh tác sản xuất nhưng hiệu
    quả thấp nên đời sống của đại bộ phận các DTTS bản địa còn hết sức khó
    khăn. Để phát huy được nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn có của tỉnh, vấn đề 9
    căn cốt hiện nay là cần có một đội ngũ cán bộ KHKT đặc biệt là cán bộ
    KHKT người DTTS để họ hướng dẫn cho DTTS bản địa, vận dụng những tri
    thức khoa học vào việc khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên
    nhiên vốn có của địa phương mình.
    Trước khi chia tách tỉnh (2004), ĐăkLăk gồm 18 huyện và 1 thành
    phố. Dân số trên 1,7 triệu người, dân tộc kinh chiếm 44%, DTTS chiếm 56%,
    mật độ dân số là 135 người/ km 2 , trong đó số dân làm nông nghiệp và sống ở
    nông thôn chiếm tỷ lệ khoảng 70%.
    Kinh tế ĐăkLăk nhìn chung chậm phát triển, công nghiệp, dịch vụ
    manh mún thiếu tập trung, tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong cơ cấu
    GDP của tỉnh cao. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong 5 năm
    2001-2005 đạt 8,05%. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân xấp xỉ 5,18%/
    năm trong giai đoạn 2001-2005. Sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh gồm
    các mặt hàng nông sản như: cà phê, tiêu, điều, ong mật, gỗ, cao su trong
    đó, các mặt hàng cà phê, ngô, gỗ, bông có sản lượng đứng đầu cả nước, đặc
    biệt sản phẩm cà phê ĐăkLăk là mặt hàng nổi tiếng trên thế giới đã xuất khẩu
    sang 83 quốc gia và vùng lãnh thổ, thâm nhập được vào cả những thị trường
    khó tính, có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm như EU,
    Mỹ, Nhật Tuy nhiên, những mặt hàng xuất khẩu của ĐăkLăk đều ở dạng
    thô nên hiệu quả kinh tế không cao, điều đó đòi hỏi cần đầu tư xây dựng
    những nhà máy chế biến những sản phẩm đó ở dạng tinh để xuất khẩu. Muốn
    làm được vậy cần quan tâm đến chính sách đào tạo và thu hút những cán bộ
    KHKT về lĩnh vực này.
    Xã hội Tây Nguyên nói chung và ĐăkLăk nói riêng là sự đan xen giữa
    những yếu tố của xã hội truyền thống với hiện đại. Tính chất cư trú đan xen
    giữa các tộc người là một hiện tượng phổ biến ở ĐăkLăk, nó không chỉ dừng
    lại ở cấp độ xã, phường, thị trấn mà còn xuống tận các buôn, làng, thôn, xóm.
    Và kéo theo là sự đa dạng, phong phú về phong tục, tập quán, truyền thống 10
    văn hóa, truyền thống với đầy đủ tính chất hai mặt của nó. Như vậy, sự đa
    dạng về thành phần dân tộc, sự đan xen về địa bàn cư trú là một nét nổi bật
    của các DTTS ở ĐăkLăk.
    ĐăkLăk là một trong những tỉnh có số lượng thành phần dân tộc đông
    nhất nước. Hiện ĐăkLăk có 44 dân tộc anh em chung sống, chiếm 29,5% tổng
    dân số cả tỉnh, trong đó 19,31% là đồng bào DTTS tại chỗ (Êđê, M’Nông,
    GiaJai). Êđê dân tộc bản địa chiếm tỷ lệ cao nhất là 14,8% so với các DTTS
    khác. Trong các DTTS ở nhiều vùng khác nhau di cư vào thì dân tộc Tày,
    Nùng chiếm tỷ lệ lớn nhất gần 6%. Có 7 dân tộc có số dân trên 1 vạn người là
    Êđê, M’Nông, GiaJai, Tày, Nùng, Thái, Mường.
    Khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc tương đối cao. Một
    số dân tộc đã đạt tới trình độ tiên tiến, nhưng vẫn còn một bộ phận vẫn còn
    mới chỉ vừa qua giai đoạn canh tác, đốt, phát, chọc, trỉa. Chính vì vậy, sự
    phân hóa giữa các dân tộc thể hiện rõ nét hơn sự phân hóa trong nội bộ từng
    dân tộc, rõ nét nhất là giữa dân tộc kinh với các DTTS bản địa. Sự phân hóa
    đang có xu hướng tăng dần không chỉ giữa các dân tộc và trong nội bộ một
    dân tộc, mà còn giữa các khu vực và các vùng trong tỉnh.
    Đặc điểm này đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS ở
    nhiều trình độ khác nhau, nhiều tộc người khác nhau và phải có khả năng
    nhạy cảm với các vấn đề về dân tộc và quan hệ dân tộc, biết giải quyết nhanh,
    đúng đắn, có hiệu quả trong quá trình chuyển đổi từ thói quen sản xuất lạc
    hậu sang vận dụng KHKT vào sản xuất không ngừng nâng cao hiệu quả của
    sản xuất tăng năng xuất lao động. Có thể nói đây là một yêu cầu không thể
    thiếu được đối với người cán bộ KHKT là người DTTS ở ĐăkLăk.
    ĐăkLăk là một vùng văn hóa giàu bản sắc và phong phú của nhiều
    dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Nó vừa đa dạng đan
    xen; vừa thống nhất, kết hợp hài hòa với nhau tạo nên một bản sắc độc đáo,
    tinh tế, một phong cách đặc thù với 3 dòng văn hóa chính: 11
    - Văn hóa bản địa của các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên
    - Văn hóa của các DTTS phía Bắc
    - Văn hóa của dân tộc Việt, mang đủ sắc thái 3 miền Bắc - Trung - Nam.
    Cả ba dòng văn hóa này đang phát triển, giao thoa, đan xen, bồi đắp
    cho nhau tạo nên nền văn hóa ĐăkLăk phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc
    dân tộc. Văn hóa làng buôn ở ĐăkLăk là sự hội tụ của văn hóa nhà dài (Êđê,
    M’Nông), văn hóa nhà rông (GiaJai, XêĐăng), văn hóa nhà sàn của các DTTS
    phía Bắc và văn hóa đình làng của người Việt. Nơi đây vừa có hương ước
    (quy ước) làng thể hiện sự gắn bó trong cộng đồng từ lâu đời, vừa thể hiện sự
    giao kết giữa các cộng đồng trong việc thực hiện nếp sống văn minh, gia đình
    văn hóa trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
    Nói đến văn hóa các dân tộc ĐăkLăk không thể không nói đến văn hóa
    cồng chiêng hết sức độc đáo, với sự hội nhập của các dàn chiêng Knar (Êđê),
    GôngPế (M’Nông), Aráp (XêĐăng, GiaJai) tạo nên một bản hợp sướng giàu
    âm điệu của núi rừng Tây Nguyên.
    Là một trong những dân tộc bản địa lâu đời ở ĐăkLăk, người Êđê có
    một hệ thống lễ hội dân gian hết sức phong phú, đa dạng và độc đáo. Đặc biệt
    là lễ nghi nông nghiệp theo nông lịch chu kỳ hàng năm như lễ ăn cơm mới,
    cúng bến nước, cầu mưa, lễ đâm trâu, lễ mừng được mùa Vấn đề đặt ra ở
    đây là, hệ thống lễ hội phong phú như vậy vừa chứa đựng những quan niệm
    mê tín dị đoan cần được xóa bỏ nhưng cũng bao hàm chứa đựng ý nghĩa nhân
    văn, giáo dục đạo đức và ý thức cộng đồng của các thành viên buôn làng, cần
    được tiếp tục nghiên cứu và cải biến cho phù hợp với nhu cầu đời sống văn
    hóa mới.
    Một nét đặc sắc trong văn hóa các dân tộc ở ĐăkLăk là các Sử thi. Nội
    dung của các Sử thi mang đậm tính lịch sử, trong đó các sinh hoạt xã hội, tín
    ngưỡng, phong tục tập quán được miêu tả cụ thể và sinh động bằng những lời
    văn vần xúc tích, trau chuốt và mang tính nghệ thuật cao. Các Sử thi thường 12
    được kể trong các lễ hội cầu chúc sức khỏe, lễ cơm mới, các lễ hội sau mùa
    gặt hái phản ánh khát vọng tự do của con người hướng về cội nguồn tổ
    tiên, cội nguồn dân tộc; về ý thức cộng đồng buôn làng. Các nội dung này có
    ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, hình thành mối quan hệ
    giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên một cách hài
    hòa, góp phần trong việc tạo dựng phẩm chất khoan dung, sự đoàn kết gắn bó
    và tính cộng đồng bền chặt xây dựng quê hương giàu đẹp hơn.
    Người Êđê theo chế độ mẫu hệ, con cái tính theo dòng mẹ, lấy họ mẹ.
    Trong cuộc sống gia đình, vai trò của người phụ nữ trở thành chính yếu, từ
    việc nắm giữ kinh tế, nuôi dạy con cái, tổ chức cuộc sống, còn người đàn ông
    chỉ lo nương rẫy. Chính sự phân công xã hội từ bản sắc văn hóa cộng đồng
    này đã ảnh hưởng đến nhân cách của người DTTS hiện nay theo hai chiều:
    tâm lý tự ti thụ động. Mặt khác, tuy người vợ có vị thế quan trọng trong gia
    đình nhưng trong quan hệ xã hội thì người đàn ông vẫn giữ vị trí quan trọng.
    Cho nên nam giới vẫn dễ thoát ly, nữ giới vẫn dễ bị cột chặt vào công việc gia
    đình, dòng họ. Thực tế này đã ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ
    nữ người DTTS.
    Sống trong một xã hội mà ý thức cộng đồng bao giỡ cũng là tính trội
    so với ý thức sống và làm việc theo pháp luật; những tàn tích của gia đình
    mẫu hệ vẫn còn tồn tại; những thói quen và tập tục lạc hậu từ ngàn đời vẫn
    níu kéo con người làm cho người cán bộ DTTS bàng quang trước cái mới
    và ngại thay đổi.
    Yếu tố xã hội truyền thống này ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình
    thành nhân cách, tâm lý của người cán bộ DTTS, chỉ dừng lại ở tư duy trực
    quan, cảm tính mà không vươn tới tư duy lý luận, tư duy khoa học, làm cho
    năng lực cá nhân chưa được phát triển một cách đầy đủ.
    ĐăkLăk chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm tình hình của một địa
    bàn miền núi, biên giới, nơi có nhiều thành phần dân tộc và tôn giáo đang 13
    hoạt động; là địa bàn tập trung đầy đủ các yếu tố về dân tộc, tôn giáo, biên
    giới hết sức phức tạp và nhạy cảm. Tỉnh có 10 xã của 6 huyện tiếp giáp với
    tỉnh Munđunkiri với 193km đường biên giới. Có 24,6% dân số theo tôn giáo,
    trong đó Công giáo 214.425 người, Phật Giáo 123.619 người, Tin lành
    135.836 người, Cao Đài 4.200 người, Hòa Hảo 175 người; có mối liên quan
    và ảnh hưởng mật thiết với yêu cầu xây dựng và bảo vệ khu vực Tây Nguyên
    cũng như của cả nước. Sự ổn định và phát triển của ĐăkLăk gắn liền với sự
    ổn định và phát triển của cả khu vực Tây Nguyên và trong cả nước.
    Với vị trí chiến lược của mình, trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, ĐăkLăk
    luôn là một trong những địa bàn mà các lực lượng thù địch chống phá quyết
    liệt, tìm cách chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu chế độ XHCN do
    Đảng ta lãnh đạo. Trong thời gian gần đây, các thế lực phản động quốc tế đã
    và đang lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để đẩy mạnh việc thực hiện diễn
    biến hòa bình kết hợp với âm mưu bạo loạn lật đổ ở ĐăkLăk bằng nhiều thủ
    đoạn chống phá trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, gia tăng
    việc truyền đạo tin lành trái phép. Núp dưới danh nghĩa dân tộc, tôn giáo, các
    thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, chia rẽ tổ chức đảng, chính quyền với đồng
    bào các dân tộc, lừa gạt, dụ dỗ, kể cả đe dọa để lôi kéo đồng bào nhằm gây ra
    sự mất ổn định về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội.
    Vụ bạo loạn mang tính chất chính trị diễn ra vào năm 2001 và 2004
    nhằm mục đích công khai cái gọi là “Nhà nước Đềgar độc lập”. Việc phát
    triển tổ chức “Tin lành Đềgar”, lôi kéo kích động lừa phỉnh đồng bào vượt
    biên trái phép sang Cămpuchia, phát tán tờ rơi, viết khẩu hiệu chống chính
    quyền, chống Đảng đều nằm trong âm mưu nói trên.
    Đặc điểm này đòi hỏi và yêu cầu trong quá trình xây dựng, đào tạo đội
    ngũ cán bộ DTTS nói chung, đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS nói riêng
    phải hết sức chú ý vấn đề rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối
    trung thành với lý tưởng cách mạng, đề cao cảnh giác, nắm vững và quán triệt

    Xem Thêm: Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004 sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status