Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của việc trồng keo lai

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18495 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của việc trồng keo lai

    MỤC LỤC
    Trang
    Lời cam đoan . iii
    Lời cảm ơn iv
    Danh mục các chữ viết tắt vii
    Danh mục các bảng . viii
    Danh mục các hình ix
    MỞ ĐẦU – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI . 1
    Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU . 3
    1.1 Trên thế giới 3
    1.2 Ở Việt Nam 4
    1.2.1 Vấn đề giống keo lai 4
    1.2.2 Sinh trưởng của cây keo lai 6
    1.2.3 Năng suất và sản lượng 8
    Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
    12
    2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
    2.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 13
    2.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 13
    2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu . 18
    Chương 3: MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
    CỨU 27
    3.1 Mục tiêu nghiên cứu 27
    3.2 Nội dung nghiên cứu . 28
    3.2.1 Nghiên cứu hệ thống biện pháp kinh tế, kỹ thuật gây trồng rừng keo
    lai giâm hom đã áp dụng tại địa phương. 28
    3.2.2 Đánh giá chất lượng sinh trưởng rừng trồng keo lai. . 28
    3.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của rừng trồng keo lai. 28
    3.2.4 Đề xuất một số giải pháp tổng hợp để nâng cao hiệu quả trồng rừng
    keo lai tại khu vực nghiên cứu. . 29vi
    3.3 Phương pháp nghiên cứu . 29
    3.3.1 Phương pháp luận nghiên cứu 29
    3.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 30
    Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN . 35
    4.1 Hệ thống biện pháp kinh tế, kỹ thuật gây trồng rừng keo lai giâm hom
    áp dụng tại địa phương . 35
    4.1.1 Kỹ thuật trồng keo lai . 35
    4.1.2 Kỹ thuật chăm sóc keo lai 39
    4.1.3 Bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng . 40
    4.1.4 Phân tích thực trạng trồng rừng keo lai tại địa phương . 41
    4.1.5 Khai thác và tiêu thụ gỗ rừng trồng 44
    4.2 Đánh giá sinh trưởng rừng trồng keo lai ở 3 địa phương 44
    4.2.1 Đánh giá tỷ lệ sống và phẩm chất rừng trồng keo lai 44
    4.2.2 Sinh trưởng chiều cao và đường kính rừng trồng keo lai 50
    4.2.3 Tính trữ lượng rừng trồng qua thể tích cây bình quân . 59
    4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của rừng trồng keo lai . 62
    4.3.1 Hiệu quả kinh tế của rừng trồng keo lai 62
    4.3.2 Hiệu quả thu nhập từ việc trồng rừng keo lai trong phát triển kinh tế
    nông hộ. . 68
    4.3.3 Chuỗi thị trường và tính ổn định kinh tế hộ gia đình trồng keo lai
    lấy gỗ ở Bình Định . 74
    4.3.4 Hiệu quả xã hội của rừng trồng keo lai . 79
    4.4 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình
    trồng rừng keo lai tại tỉnh Bình Định 82
    KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 87
    Kết luận 87
    Đề nghị . 91
    Tài liệu tham khảo 92
    PHỤ LỤC 95vii
    Danh mục các chữ viết tắt
    Từ viết tắt Nguyên nghĩa
    CIPP Bối cảnh - Đầu vào - Tiến trình - Đầu ra
    (Context - Input - Process - Product)
    PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
    PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural
    Appraisal)
    PTNT Phát triển nông thôn
    QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
    SWOT Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Trở ngại
    (Strengths - Weakness - Opportunities - Threats)
    TN&MT Tài nguyên và môi trường
    UBND Ủy ban nhân dân viii
    Danh mục các bảng
    Trang
    Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lâm nghiệp từ 2003 – 2008 của huyện Tuy Phước 23
    Bảng 4.1 Phân tích SWOT về việc trồng, chăm sóc và khai thác rừng trồng ở các
    khu vực nghiên cứu 43
    Bảng 4.2 Chiều cao rừng trồng keo lai theo các cỡ tuổi ở 3 khu vực . 52
    Bảng 4.3 Đường kính rừng trồng keo lai theo các cỡ tuổi ở 3 khu vực 56
    Bảng 4.4 Dự toán trữ sản lượng keo lai khai thác ở tuổi 7 tại các khu vực trồng 60
    Bảng 4.5 Giá thành 1ha trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trồng keo lai 64
    Bảng 4.6 Thu nhập từ rừng keo lai 7 tuổi của các khu vực nghiên cứu 66
    Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế của rừng trồng keo lai tại các khu vực với chủ sở hữu
    khác nhau . 67
    Bảng 4.8 Chi phí, lợi nhuận và chênh lệch trong kênh thị trường 77
    Bảng 4.9 Số lao động tham gia trồng và chăm sóc 1ha rừng keo lai chu kỳ 7 năm .
    80ix
    Danh mục các hình
    Trang
    Hình 4.1: Phân tích thực trạng trồng rừng keo lai tại 3 địa phương tỉnh Bình Định
    42
    Hình 4.2: Tỷ lệ sống của rừng trồng keo lai tại 3 khu vực chủ sở hữu là người dân
    466
    Hình 4.3: Tỷ lệ sống của rừng trồng keo lai tại 3 khu vực chủ sở hữu là công ty 47
    Hình 4.4: Phẩm chất rừng trồng keo lai cỡ tuổi 6 tại 3 huyện nghiên cứu . 48
    Hình 4.5: Phẩm chất rừng trồng keo lai cỡ tuổi 7 tại 3 huyện nghiên cứu . 48
    Hình 4.6: Đo chiều cao cây keo lai bằng dụng cụ Sunnto . 50
    Hình 4.7: Đo đường kính thân cây bằng thước đo đường kính . 51
    Hình 4.8: Khai thác rừng keo lai ở tuổi 7 . 51
    Hình 4.9: So sánh sinh trưởng chiều cao keo lai 6 tuổi . 53
    Hình 4.10: So sánh sinh trưởng chiều cao keo lai 7 tuổi . 54
    Hình 4.11: So sánh sinh trưởng đường kính keo lai 6 tuổi 57
    Hình 4.12: So sánh sinh trưởng đường kính keo lai 7 tuổi 58
    Hình 4.13: Rừng keo lai 7 năm tuổi xã Canh Vinh – Vân Canh . 61
    Hình 4.14: Rừng keo lai 7 năm tuổi xã Phước Mỹ - Quy Nhơn 61
    Hình 4.15: Rừng keo lai 7 năm tuổi xã Phước Thành – Tuy Phước 62
    Hình 4.16: So sánh cơ cấu đất canh tác của hộ dân ở 3 huyện 69
    Hình 4.17: So sánh nguồn thu nhập của hộ dân có trồng keo lai ở 3 huyện 6969
    Hình 4.18: Phỏng vấn hộ trồng rừng keo lai xã Canh Vinh – Vân Canh . 710
    Hình 4.19: Phỏng vấn hộ trồng rừng keo lai xã Phước Thành – Tuy Phước . 71
    Hình 4.20: Phỏng vấn hộ trồng rừng keo lai xã Phước Mỹ - Quy Nhơn . 71
    Hình 4.21: So sánh đất canh tác của hộ có và không có trồng keo lai . 72
    Hình 4.22: So sánh các nguồn thu nhập của hộ có và không có trồng keo lai . 73
    Hình 4.23: Một số hình ảnh của các công ty thu mua gỗ keo làm nguyên liệu giấy
    tại Quy Nhơn . 7881
    MỞ ĐẦU – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
    Thời gian gần đây, rừng tự nhiên đã bị suy giảm nhanh chóng cả về số
    lượng và chất lượng. Trước tình hình đó, nhiều cơ quan lâm nghiệp, tổ chức
    cá nhân và người dân nhiều địa phương đã đẩy mạnh kinh doanh rừng trồng.
    Việc trồng rừng đã góp phần đáng kể nâng cao tỷ lệ che phủ đất trống đồi núi
    trọc, đáp ứng nhu cầu về gỗ đồng thời tạo thêm nhiều việc làm cho người dân
    sống gần rừng nhất là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa.
    Hiện tại việc trồng rừng các loài cây mọc nhanh cho năng suất cao đang là
    nhu cầu thực tiễn cấp thiết, với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
    Bình Định là tỉnh duyên hải miền trung, phát triển lâm nghiệp ở đây
    không chỉ để phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái mà
    còn tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân tại chỗ, hạn chế tình
    trạng phá rừng làm nương rẫy, nâng cao tỷ lệ che phủ bề mặt đất.
    Trong nhiều năm qua, có nhiều đơn vị sản xuất lâm nghiệp và người
    dân trên địa bàn tỉnh Bình Định đã chú trọng công tác trồng rừng sản xuất,
    rừng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ và rừng nguyên liệu
    giấy nhưng chất lượng giống chưa được cải thiện, các biện pháp kỹ thuật lâm
    sinh chưa được áp dụng đầy đủ. Vấn đề lựa chọn loài cây trồng chưa phù hợp
    với điều kiện khí hậu, đất đai nơi trồng, đầu tư thấp dẫn đến năng suất các
    loại rừng trồng chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu gỗ cho công nghiệp chế
    biến nói chung và nguyên liệu cho ngành công nghiệp bột giấy nói riêng.
    Keo lai là loài cây mọc nhanh đã được nhiều công ty, người dân địa
    phương lựa chọn đưa vào gây trồng thuần loài ở nhiều huyện của tỉnh Bình
    Định. Theo nhận định của cơ quan quản lý lâm nghiệp tỉnh, cây keo lai đã
    bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế nhất định. Tuy nhiên cho đến nay, tại
    địa phương chưa có những công trình nghiên cứu đầy đủ để đánh giá được
    tình hình sinh trưởng cũng như chất lượng và hiệu quả kinh tế, xã hội một 2
    cách khoa học, từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây mọc nhanh làm
    nguyên liệu giấy phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của tỉnh Bình Định .
    Để góp phần cải thiện và nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng
    nguyên liệu, tận dụng diện tích đất trống đồi núi trọc một cách hợp lý, có hiệu
    quả, nhằm chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp bột
    giấy của tỉnh. Với những lý do trên, được sự nhất trí của phòng Đào tạo sau
    đại học, trường đại học Tây Nguyên và người hướng dẫn khoa học, chúng tôi
    tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội
    của việc trồng keo lai (Acacia Mangium x Acacia Auriculiformis) làm
    nguyên liệu giấy tại một số địa phương tỉnh Bình Định”.
    Đề tài sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học trong việc nghiên cứu
    đánh gía hiệu quả kinh tế - xã hội của rừng trồng keo lai giâm hom, trên địa
    bàn các huyện thuộc tỉnh Bình Định. 3
    Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
    1.1 Trên thế giới
    Keo lai là tên gọi viết tắt của giống lai tự nhiên giữa hai loài keo tai
    tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống lai
    này được Messrs Hepbum và Shim phát hiện năm 1972 trong những hàng cây
    trồng ven đường. Năm 1978 khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản
    thực vật ở Queensland (Australia) Pedkey đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên
    giữa keo tai tượng và keo lá tràm. Trong tự nhiên keo lai cũng được phát hiện
    ở Papu NewGuinea (Turn bull,1986; Grinfin, 1988) dẫn theo Lê Đình Khả
    (1997) [12]
    Nghiên cứu năm 1987 của Rufelds cho thấy tại miền Bắc Sabah –
    Malaisia, keo lai xuất hiện ở rừng keo tai tượng 3 - 4 cây/ha còn Wong thì
    thấy xuất hiện tỷ lệ 1/500 cây.
    Năm 1991 Cyrin Pinso và Robert NaSi đã thấy tại khu UluKukut cây
    lai tự nhiên đời F1 sinh trưởng khá hơn các xuất xứ của keo tai tượng ở
    Sabah. Các tác giả này cũng thấy rằng gỗ của keo lai là trung gian giữa keo tai
    tượng và keo lá tràm, có phẩm chất tốt hơn keo tai tượng.
    Tại Thái Lan (Kij Kar,1992), keo lai được tìm thấy ở vườn ươm keo
    tai tượng (lấy giống từ Malaisia) tại trạm nghiên cứu Jon – Pu của Viện
    nghiên cứu Lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al,1989). Trong giai đoạn
    vườn ươm keo lai hình thành lá giả (Phylod) sớm hơn keo tai tượng và muộn
    hơn keo lá tràm, dẫn theo Lê Đình Khả (1997).[12]
    Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống thành công bằng hom (Griffin,
    1991). Tuy nhiên, trên thế giới vẫn chưa có những nghiên cứu về tính chất vật
    lý và cơ học cũng như tính chất bột giấy của keo lai và chưa có những nghiên
    cứu chọn lọc cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính để từ đó tạo ra các dòng
    tốt nhất để đưa vào sản xuất (Lê Đình Khả,1999). 4
    Hiện nay keo lai được trồng rất nhiều quốc gia trên thế giới : Australia,
    Papua new Guinea va Indonexia , Malaixia, Philippin phù hợp với nhiều điều
    kiện sinh thái, cây phát triển nhanh, trồng dễ sống, trong một chu kỳ cho một
    sinh khối lớn hơn các loài keo khác và chất lượng gỗ cũng đẹp.
    Sinh trưởng và sản lượng: Qua các số liệu khảo nghiệm và trồng rừng
    thực tế thì sinh trưởng cây keo lai sinh trưởng rất nhanh và cho sinh khối lớn
    hơn rất nhiều so với các loài cây keo bố mẹ và các giống keo lai khác.
    1.2 Ở Việt Nam
    1.2.1 Vấn đề giống keo lai
    Ở nước ta, keo lai xuất hiện lác đác một số nơi ở Nam Bộ như Tân Tạo,
    Trảng Bom, Sông Mây và ở BaVì (Hà Tây), Phú Thọ, Hoà Bình và Tuyên
    Quang (Lê Đình Khả,1999). Những cây lai này đã xuất hiện trong rừng keo
    tai tượng với những tỷ lệ khác nhau. Ở các tỉnh Miền Nam là 3 - 4%, còn ở
    Ba Vì là 4 - 5%. Riêng giống lai tự nhiên tại BaVì được xác định là Acacia
    Mangium (xuất xứ Daitree thuộc bang Queensland) với Acacia auriculiformis
    (xuất xứ Darwin thuộc Bang Northern Territoria) của Australia.
    Keo lai được phát hiện và khảo nghiệm đợt 1 từ năm 1993 – 1995, đến
    năm 1996 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với các đơn vị
    khác tiếp tục nghiên cứu về keo lai. Các nghiên cứu này là chọn lọc thêm các
    cây trội keo lai tự nhiên, xây dựng khảo nghiệm các dòng vô tính, tiến hành
    đánh giá tiềm năng bột giấy của keo lai cũng như tiến hành khảo nghiệm các
    dòng keo lai được lựa chọn ở các vùng sinh thái khác nhau (Lê Đình Khả,
    Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Văn Thảo và các cộng sự,1999; Lê Đình Khả,1999)
    [12]. Kết quả cho thấy keo lai có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng so với keo tai
    tượng và keo lá tràm, có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa keo tai
    tượng và keo lá tràm. Khi cắt cây để tạo chồi thì keo lai cho rất nhiều chồi
    (trung bình 289 hom/01gốc). Các hom này có tỷ lệ ra rễ trung bình 47%, 5
    trong đó có 11 dòng cho ra rễ từ 57 – 85%. Sai khác giữa các dòng về sinh
    trưởng là khá rõ. Một số dòng vô tính sinh trưởng rất nhanh nhưng các chỉ
    tiêu chất lượng không đạt yêu cầu, một số dòng vừa sinh trưởng nhanh vừa có
    các chỉ tiêu chất lượng tốt có thể nhân giống nhanh và số lượng nhiều đưa vào
    sản xuất như các dòng BV5, BV10, BV16, BV29, BV32.
    Năm 1996 –1997 việc chọn lọc cây trội tại BaVì (Hà Tây) và khu vực
    Đông Nam Bộ như khu vực Bầu Bàng, Sông Mây và trường Cao Đẳng Lâm
    nghiệp. Ở BaVì điều kiện lập địa khá khắc nghiệt (đất đồi trọc, nghèo dinh
    dưỡng và mùa đông lạnh).
    Ở Đông Nam Bộ là đất phù sa cổ sâu, ít bị đá ong hoá, tương đối bằng
    phẳng, có nắng quanh năm. Vì vậy, keo lai ở BaVì sinh trưởng chậm hơn ở
    Đông Nam Bộ song các cây lai được chọn cả hai nơi đều có sinh trưởng vượt
    trội rõ rệt hơn so với keo tai tượng, số liệu dưới đây cho thấy những cây keo
    lai được lựa chọn có đường kính vượt keo tai tượng 30,1 – 149,1% (tại BaVì)
    và 25,3 – 107,7% (tại Đông Nam Bộ), chiều cao vượt keo tai tượng từ 29,4 –
    125,8% (tại Ba Vì) và 12,1 – 81,8% (tại Đông Nam Bộ). Đây cũng là những
    cây keo lai có hình dáng thân cây và tán lá đẹp nhất ở mỗi nơi, khảo nghiệm
    dòng vô tính có thể sẽ chọn được một số dòng tốt nhất để phát triển vào sản
    xuất (Lê Đình Khả, Nguyễn Văn Thảo, Phạm Văn Tuấn và các cộng sự 1999;
    Lê Đình Khả, 1999)[14].
    Khảo nghiệm một số dòng vô tính mới được chọn năm 1996 ở (Cẩm
    Quỳ) đã được xây dựng ngay tại nơi chọn lọc cây mẹ. Nguồn keo lai được lựa
    chọn là từ các rừng keo tai tượng được lấy giống từ Đồng Nai, thấy nổi lên
    một số nét chính các cây trội keo lai mới được chọn mặc dù có độ vượt ban
    đầu khá lớn, song qua khảo nghiệm đều thấy sinh trưởng kém hơn các dòng
    keo lai cũ là BV5, BV10. Trong 14 dòng được đưa vào khảo nghiệm có 10
    dòng vượt các loài keo có bố mẹ được trồng làm đối chứng. Trong đó có 8
    dòng có độ vượt lớn hơn 25% so với các loài cây bố mẹ (Lê Đình Khả và các 6
    công sự, 1997-1999). Hệ số biến động về đường kính và chiều cao của keo lai
    cũng luôn nhỏ hơn keo tai tượng và keo lá tràm, nghĩa là keo lai có ưu điểm
    có đường kính và chiều cao đồng đều hơn keo tai tượng (Lê Đình Khả và các
    cộng sự, 1997).
    Một số dòng keo lai được lựa chọn có hàm lượng xenlulô cao hơn hai
    loài bố mẹ và cao hơn Bạch đàn Caman. Độ chịu kéo, độ gấp, và độ trắng
    giấy của keo lai cũng cao hơn hai loài bố mẹ, bồ đề và mỡ.
    Nghiên cứu của Lê Đình Khả và các cộng sự năm 1997 cho thấy không
    nên dùng hạt của keo lai trồng rừng mới. Cây lai đời F1 có hình thái trung
    gian giữa hai loài bố mẹ và đồng nhất tương đối về hình thái. Song khi sinh
    sản bằng hạt để cho thế hệ lai thứ hai (F2) lại bị phân ly hình thái và bị thoái
    hoá, vì vậy khi trồng rừng bằng cây con mọc từ hạt của cây lai F1 cây trồng sẽ
    bị phân hoá về sinh trưởng và hình thái, đồng thời ưu thế lai cũng bị giảm
    xuống. Chính vì vậy, việc nhân giống bằng hom hoặc nhân giống bằng nuôi
    cấy mô là phương pháp bảo đảm nhất để giữ ưu thế lai đời F1.
    1.2.2 Sinh trưởng của cây keo lai
    Nghiên cứu so sánh tại rừng trồng ở BaVì đã cho thấy lúc 2,5 tuổi keo
    lai có chiều cao 4,5m, đường kính ngang ngực trung bình từ 5,21cm, trong khi
    keo tai tượng có chiều cao là 2,77m và đường kính là 2,63m (Lê Đình Khả,
    Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Đình Hải, 1993)[18].
    Nghiên cứu chọn lọc cây trội, nhân giống và bước đầu khảo nghiệm
    dòng vô tính keo lai ở Đông Nam Bộ do Phạm Văn Tuấn, Lưu Bá Thịnh,
    Phạm Văn Chiến tiến hành năm (1995;1998;1999) cho thấy hom chồi ra rễ
    cao nhất được giâm hom từ tháng 5 – 7 và xử lý bằng IBA dạng bột nồng độ
    0,7% và 1,0% trong đó các cá thể keo lai khác nhau có tỷ lệ ra rễ khác nhau.
    Qua khảo nghiệm cho thấy các dòng Keo lai có sinh trưởng nhanh hơn keo lá
    tràm và keo tai tượng từ đó chọn được các dòng 3; 5; 6; 12 có sinh trưởng 7
    nhanh để nhân giống đại trà cho trồng rừng sản xuất ở Đông Nam Bộ và các
    địa phương có điều kiện lập địa tương tự.
    Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân, Trần Hồ Quang, Ngô Thị Minh
    Duyên, Đoàn Thị Mai (1995) về nuôi cấy mô cây keo lai thấy rằng có thể
    nhân giống nhanh cây keo lai bằng phương pháp nuôi cấy mô trong môi
    trường MS (Murashige and Skoog) với BAP (Benzym Amino Purinine) 2mg/l
    thì số chồi nhân lên 20 – 21 lần và có thể cho các chồi ra rễ bằng biện pháp
    giâm hom thông thường trên nền cát sông được phun sương trong nhà kính,
    nghiên cứu này đã xác định được môi trường thích hợp và tỷ lệ các nguyên tố
    đa lượng, vi lượng, tỷ lệ các chất kích thích sinh trưởng cũng như môi trường
    nuôi cấy mô keo lai.
    Sau này Lê Đình Khả và cộng sự ở Malaisia thí nghiệm giâm trực tiếp
    cây mô trên nền cát sông, sau 01 tháng giâm hom cây mô có tỷ lệ ra rễ 90 –
    100% và sau 02 tháng giâm hom cây ra rễ vẫn giữ được 80 – 100% (Lê Đình
    Khả và cộng sự, 2001).
    Nghiên cứu nhân giống keo lai bằng hom tại BaVì cho thấy khả năng
    cung cấp hom thay đổi theo tuổi cây và theo các tháng trong năm. Số hom cắt
    được từ cây giống một tuổi là 116 hom/cây, cây giống hai tuổi là 357
    hom/cây, cây từ 3 – 4 tuổi từ 511 – 518 hom/cây. Như vậy, cây hai tuổi đã có
    khả năng cung cấp hom gấp 3 lần cây một tuổi, cây ba tuổi thì khả năng cung
    cấp hom bắt đầu ổn định, thời gian cắt được nhiều hom nhất là tháng 5 –
    tháng 10, thực tế đây là thời kỳ ra rễ cao nhất .
    Các loại hoocmon dùng để giâm hom cho cây gỗ là IAA, IBA. Thí
    nghiệm giâm hom cho cây giống ba tuổi của keo lai bằng IAA, IBA dạng bột,
    được chuẩn bị theo chất nền của trung tâm nghiên cứu giống cây rừng có tên
    gọi tắt là (TTG) đã được tiến hành tại vườn ươm Chèm (Hà Nội) của trung
    tâm nghiên cứu giống cây rừng được tiến hành tháng 8 năm 1998, mỗi công
    thức 30 hom, lặp lại 03 lần. Kết quả thí nghiệm cho thấy công thức đối chứng 8
    (không xử lý hoocmon) có tỷ ra rễ 61,1%, các công thức xử lý TTG2 (tức là
    IAA) có tỷ lệ ra rễ trung bình từ 70 - 77,8%, các công thức xử lý TTG1 (tức là
    IBA) có tỷ lệ ra rễ trung bình 72,2 – 88,9%, trong đó công thức xử lý bằng
    IBA 0,75% dạng bột có tỷ lệ ra rễ trung bình cao nhất (86,7 – 93,3%). Điều
    này chứng tỏ IAA, IBA có tác dụng kích thích ra rễ đối với hom keo lai khá
    rõ rệt và IBA là chất kích thích ra rễ mạnh hơn IAA.
    1.2.3 Năng suất và sản lượng
    Nghiên cứu giống keo lai và vai trò các biện pháp thâm canh khác
    trong tăng năng suất rừng trồng của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) cho
    thấy cải thiện giống và các biện pháp thâm canh đều có vai trò quan trọng
    trong tăng năng suất rừng trồng. Muốn tăng năng suất rừng trồng cao, nhất
    thiết phải áp dụng tổng hợp các biện pháp cải thiện giống và các biện pháp
    thâm canh khác. Kết hợp giữa giống được cải thiện với các biện pháp kỹ thuật
    trồng rừng thâm canh mới tạo được năng suất cao trong sản xuất lâm nghiệp.
    Các giống keo lai được lựa chọn qua khảo nghiệm có năng suất cao hơn rất
    nhiều so với các loài bố mẹ. Ví dụ tại Cẩm Quỳ (BaVì – Hà Tây) khi được
    trồng ở điều kiện thâm canh (có cày đất và bón phân thích hợp) thì ở giai đoạn
    hai năm tuổi keo lai có thể tích 19,6dm 3 /cây. Trong lúc các loài keo bố mẹ
    trồng cùng điều kiện lập địa ở công thức quảng canh có thể tích thân cây
    4,7dm 3 /cây. Trong khi các loài bố mẹ trồng cùng điều kiện thâm canh như
    vậy thì thể tích thân cây chỉ đạt 2,7 – 6,1dm 3 /cây, còn công thức quảng canh
    chỉ đạt 0,6 – 1,2dm 3 /cây (Lê Đình Khả, 1997;1999).
    Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của keo lai và hai loài bố mẹ của Lê
    Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Nguyễn Đình Hải (1999)[14] cho thấy ở giai đoạn
    vườn ươm 03 tháng tuổi các dòng keo lai đã được lựa chọn có số lượng nốt
    sần từ 39,9 – 80,3 cái/cây, gấp 2,5 – 13 lần các loài bố mẹ. Khối lượng tươi
    của các nốt sần ở các dòng keo lai từ 0,39 – 0,47g/cây, trong lúc của các loài
    bố mẹ là 0,075 – 0,15g/cây, còn khối lượng khô của các nốt sần ở các dòng 9
    keo lai là 0,08 – 0,130g/cây, gấp 5 – 12 lần các loài keo bố mẹ (0,011 –
    0,017g/cây).
    Một số dòng keo lai có lượng vi khuẩn cố định nitơ cao hơn các loài bố
    mẹ, một số khác có tính chất trung gian. Đặc biệt, dưới tán rừng keo lai 5 tuổi
    khảo nghiệm tại Đá Chông thuộc trạm thực nghiệm giống BaVì (1999), số
    lượng vi sinh vật và số lượng vi khuẩn cố định Nitơ tự do trong 01 gram đất
    cao hơn rõ rệt so với đất dưới tán rừng keo tai tượng và keo lá tràm, 01 gam
    đất dưới tán rừng keo lai có thể gấp 5 – 17 lần các loài keo bố mẹ và cao gấp
    97 lần mẫu đất lấy ở nơi đất trống. Vì thế đất dưới tán rừng keo lai được cải
    thiện hơn đất dưới tán rừng keo hai loài bố mẹ cả về hoá tính, lý tính và số
    lượng vi sinh vật.
    Nghiên cứu khả năng chịu hạn của một số dòng keo lai được lựa chọn
    tại BaVì của Lê Đình Khả, Đoàn Thị Mai, Nguyễn Thiên Hương, (1999)
    trong các dòng keo lai được lựa chọn có sự khác nhau về cường độ thoát hơi
    nước, áp suất thẩm thấu, độ ẩm cây héo và thể hiện tính chịu hạn cao hơn bố
    mẹ. Trong đó dòng BV32 có sức chịu hạn khá nhất, tiếp theo là các dòng
    BV5, BV10 và BV16.
    Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Dao (2003) cho thấy khảo nghiệm tại BaVì
    (Hà Tây) ở phương thức thâm canh Keo lai 78 tháng tuổi chiều cao vút ngọn
    trung bình 15m, đường kính trung bình D1.3 14,3cm, thể tích thân cây keo lai
    đạt 172,2dm3/cây gấp 1,42 – 1,48 lần keo tai tượng và gấp 5,6 – 10,5 lần thể
    tích keo lá tràm. Khảo nghiệm tại Bình Thanh (Hoà Bình) ở công thức thâm
    canh 7 tuổi chiều cao trung bình keo lai là 22,3m, đường kính trung bình D 1.3
    20,7cm, ở công thức quảng canh keo lai có chiều cao 22,9m, đường kính D 1.3
    là 19,3cm, thể tích thân cây keo lai đạt 383,1dm 3 /cây ở công thức thâm canh,
    còn thể tích thân cây công thức quảng canh là 344,2 dm 3 /cây.
    Khảo nghiệm tại Đại Lải (Vĩnh Phúc) ở đất đồi lateritic nghèo dinh
    dưỡng, mùa đông lạnh sau 6 năm tuổi ở công thức thâm canh Hvn trung bình 10
    đạt 15,5m, D 1.3 trung bình 11,7cm, thể tích thân cây đạt 86,2dm 3 /cây, trong
    khi đó thể tích thân cây keo tai tượng là 16,2 – 31,3dm 3 /cây. Khảo nghiệm tại
    Đông Hà (Quảng Trị) cho thấy ở 5,5 tuổi Hvn keo lai là 16,7m, D 1.3 trung
    bình 17,2cm, thể tích thân cây là 202,2dm 3 /cây.
    Khảo nghiệm tại Long Thành (Đồng Nai) ở giai đoạn 5 tuổi Hvn trung
    bình đạt 21,6m, D 1.3 13,6cm, thể tích thân cây là 189,7dm 3 /cây.
    Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thế năm 2004 thì keo lai dòng BV10
    trồng thuần loài trên đất phát triển trên đá phiến Thạch sét và đất phát triển
    trên đá Sa thạch ở Lâm trường Hữu Lũng và Lâm trường Phúc Tân thuộc
    Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc. Kết quả cho thấy tại hai khu vực sinh trưởng
    chiều cao vút ngọn của dòng keo lai (BV10) cao hơn keo tai tượng từ 3,1 –
    4,4m, dòng keo lai (BV10) sinh trưởng trên cùng một loại đất ở hai khu vực
    thì chiều cao (Hvn) ở Hữu Lũng cao hơn ở Phúc Tân; đường kính D 1.3 của
    dòng keo lai (BV10) ở Hữu Lũng sinh trưởng nhanh hơn keo tai tượng, tại
    Hữu Lũng D 1.3 của Keo lai (BV10) từ 11,3 – 12,7cm, còn keo tai tượng từ
    10,6 – 12,2cm, ở Phúc Tân sinh trưởng đường kính D 1.3 của keo lai từ 8,9 –
    9,3cm, keo tai tượng từ 7,6 – 7,7cm. Hệ số biến động chiều cao của keo lai
    thấp hơn so với keo tai tượng.
    Hiện nay, keo lai được trồng phổ biến trên cả nước cho thấy sinh
    trưởng vượt trôi so với keo lá tràm và phù hợp với hầu hết các loại đất, tuy
    nhiên ở Việt Nam hiện nay các loại đất tốt chủ yếu chỉ để sản suất trồng các
    loại cây khác có hiệu quả kinh tế hơn so với trồng rừng. Do vậy, hầu hết diện
    tích trồng rừng chỉ được trồng hầu hết là đất xấu, có độ dốc lớn, đất trơ sỏi đá
    nhưng trồng rừng bằng giống keo lai thì cho hiệu quả kinh tế cao hơn so
    với trồng rừng bằng loài keo lá tràm và keo tai tượng .
    Qua các năm gần đây một số đơn vị chuyển sang chuyên trồng rừng
    bằng cây keo lai đã đem lại hiểu quả kinh tế về nhiều mặt như: về mặt xã hội
    thì giải quyết đựơc công ăn việc làm cho một lực lượng lao động dồi dào ở 11
    vùng sâu vùng xa. Tăng thu nhập cho những người dân trồng rừng, góp phần
    xoá đói giảm nghèo, cải thiện tình dân sinh kinh tế. Về mặt sinh thái góp phần
    phủ xanh đất trống đồi núi trọc và cải tạo đất. Hiện nay nhiều đơn vị trồng
    rừng bằng keo lai bước đầu cho một hiệu quả kinh tế khá cao và từ đấy làm
    mô hình nhân rộng ra cho người địa phương tham gia vào trồng rừng.
    Tỉnh Bình Định hiện tại quỹ đất trống, đồi trọc còn khá nhiều, sản xuất

    Xem Thêm: Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của việc trồng keo lai
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của việc trồng keo lai sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status