Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), thành phố Hà Nội hiện nay

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18524 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), thành phố Hà Nội hiện nay

    MỞ ĐẦU
    1. Lý do chọn đề tài
    Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và quá trình toàn cầu hoá đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, dân tộc, hơn lúc nào hết, việc giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, trong đó có các nghề thủ công truyền thống đang được đặt ra một cách bức thiết, bởi nó có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Nghề thủ công truyền thống hiện được coi là một trong 7 lĩnh vực của di sản văn hóa phi vật thể góp phần thể hiện bản sắc cũng như đặc trưng diện mạo nông thôn và nhiều đô thị ở Việt Nam.
    Sự nghiệp đổi mới đất nước đã bước sang giai đoạn mới: giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một trong những nội dung trọng tâm của quá trình này là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, trong đó việc khôi phục, phát triển nghề và làng nghề thủ công truyền thống có vai trò hết sức quan trọng bởi nó thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn với việc tạo công ăn việc làm cho lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân, góp phần phát triển các loại hình du lịch và dịch vụ, đẩy mạnh xuất khẩu trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế.
    Nghề thủ công truyền thống Việt Nam với 11 nhóm nghề chính như nghề sơn mài, ngành nghề gốm sứ thủy tinh, nghề thêu ren, nghề dệt, nghề mây tre đan, nghề cói, nghề giấy thủ công, nghề tranh in khuôn gỗ, nghề chạm khắc đá, nghề gỗ, nghề kim khí đúc đồng, chạm bạc [114, tr.9] tạo nên hơn 2000 làng nghề thủ công (đã được công nhận) phân bố suốt chiều dài đất nước đã và đang là một bộ phận quan trọng của kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Bằng đôi bàn tay khéo léo, đôi mắt thẩm mỹ và óc sáng tạo của mình, nghệ nhân ở các ngành nghề thủ công truyền thống đã chế tác ra nhiều sản phẩm phục vụ cho hoạt động sống của con người, đồng thời gìn giữ và trao truyền cho các thế hệ mai sau những tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật dân gian cùng kinh nghiệm sản xuất của cộng đồng làm nghề.
    Nằm trong vùng châu thổ Bắc Bộ - vùng đất vốn được coi là cái nôi của nhiều nghề, làng nghề thủ công, khu vực Hà Nội hiện đang là nơi hội tụ 47 nghề trong tổng số 52 nghề trên toàn quốc [117, tr.15] với 286 làng nghề truyền thống đã được công nhận [119]. Trong số các nhóm nghề thủ công truyền thống đang hiện diện trên mảnh đất Thủ đô phải kể tới nghề sơn - một nghề cổ truyền xuất hiện từ rất sớm trên đất nước ta và đã để lại dấu ấn bản sắc văn hóa Việt Nam đối với thế giới. Nghề sơn cùng với chất liệu và sản phẩm của nó đã trở thành vốn quý của văn hóa dân tộc và nhân loại bởi bên cạnh việc góp tiếng nói chung với các nước trên thế giới ở tính trang trí, tính ứng dụng, phục vụ đời sống sinh hoạt và tín ngưỡng của con người thì ở Việt Nam, vào những năm 30 của thế kỷ XX, nghệ thuật tranh sơn mài đã ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển nghề sơn cổ truyền. Có thể nói, đó là giá trị mới mang tính nghệ thuật với đầy đủ bản sắc dân tộc và thời đại, truyền thống và hiện đại, làm phong phú hơn ngôn ngữ biểu đạt của sơn ta. Đến thời điểm này, Hà Nội là nơi tập trung nhiều làng có nghề sơn nhất cả nước với 8 làng nghề chuyên sâu đang và đã từng hoạt động. Nếu tính cả những làng nghề có sử dụng sơn ta với ý nghĩa là một chất liệu cần có trong quy trình chế tác sản phẩm thì Hà Nội hiện có tới gần 40 làng nghề.
    Kể từ khi Hà Nội cùng đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội khá mạnh mẽ, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng ngày càng được mở rộng. Song, quá trình phát triển nhanh chóng này đã tạo đà cho những biến đổi sâu sắc ở tất cả các lĩnh vực trong đó có sự biến đổi của các ngành nghề truyền thống như nghề sơn theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Hai làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), Hà Nội đã có nghề sơn truyền thống từ lâu đời và sớm khẳng định được vị trí riêng về chất lượng kỹ thuật và mỹ thuật của các sản phẩm làm ra trong hệ thống các làng nghề sơn ở châu thổ Bắc Bộ. Nằm ở hai huyện được đánh giá là những khu vực có sự phát triển kinh tế khá năng động với mật độ làng nghề đông đảo nhất Hà Nội, có thể coi hoạt động nghề ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng là những trường hợp thể hiện khá rõ nét xu thế biến đổi nhiều mặt của nghề sơn truyền thống dưới tác động của các điều kiện chủ quan và khách quan, đã và đang diễn ra rất phổ biến tại các làng nghề trên địa bàn Thủ đô hiện nay. Sự biến đổi này là tất yếu và cần có để nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng có thể tiếp tục duy trì và phát triển trong bối cảnh hiện nay. Trước những tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, trong khi nhiều làng nghề sơn truyền thống đã không thể tiếp tục duy trì nghề như Bình Vọng (Hà Nội), Đình Bảng (Bắc Ninh) , nghề sơn truyền thống tại hai làng Bối Khê và Vũ Lăng cho đến nay vẫn hoạt động khá tốt nhờ có sự nhạy bén, chủ động thay đổi các mặt hàng sản phẩm phù hợp với bối cảnh mới. Tuy nhiên, trong quá trình vận động biến đổi, ngành nghề sơn cổ truyền cũng phải đối mặt với không ít khó khăn thách thức mà nếu thiếu vai trò điều tiết của Nhà nước chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động tự phát ở các làng nghề, nhiều giá trị có nguy cơ bị mai một và mất đi trong một tương lai không xa.
    Trước xu thế biến đổi nhiều mặt đã và đang diễn ra ngày càng sâu sắc của nghề thủ công truyền thống ở khu vực Hà Nội, việc tìm hiểu, nắm bắt được sự vận động biến đổi (bao gồm bản chất, tác nhân và hệ quả) của nghề sơn truyền thống ở các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng, qua đó định hướng cho ngành nghề này phát triển dựa trên các cứ liệu khoa học là một trong những yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc cũng như công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt, trong bối cảnh này, việc đi tìm và tôn vinh những làng nghề truyền thống đang bị lu mờ dần trong tâm trí của người Việt ở xã hội đương đại như các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng lại càng trở nên có ý nghĩa hơn lúc nào hết.
    Nghề sơn và làng nghề sơn vốn là đề tài khoa học có sức hấp dẫn với không ít nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu dưới nhiều góc độ, phạm vi và ở nhiều mức độ khác nhau. Trước tiên, có thể kể tới các bộ chính sử của nước ta có đề cập những vấn đề liên quan đến nghề sơn như Đại Việt sử ký toàn thư [66, 67], Đại Nam nhất thống chí [92], Khâm định Việt sử thông giám cương mục [93] và các công trình nghiên cứu của người nước ngoài như Những cây sơn ở Đông Dương của CH. Crevost [19], Sơn và dầu sơn Bắc Bộ - Trung Quốc - Nhật Bản của G. Dumontier [39], Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 của William Dampier [125], Miêu tả vương quốc Đàng Ngoài của Samuel Baron [95]. Đây có thể coi đó là nguồn sử liệu gốc cần phải tiếp cận đầu tiên khi nghiên cứu về nghề sơn nói chung và biến đổi nghề sơn nói riêng.
    Thứ hai là những công trình nghiên cứu có ít nhiều thông tin đề cập đến nghề và làng nghề sơn với ý nghĩa là giới thiệu khái quát về lịch sử ngành nghề này trong tổng thể nhiều nghề thủ công truyền thống khác như Truyện các ngành nghề (Tạ Phong Châu chủ biên) [18]; Lược truyện thần tổ các ngành nghề của Vũ Ngọc Khánh [59], Nghề thủ công truyền thống và các vị tổ nghề của Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo [123]
    Tiếp đến là những công trình nghiên cứu chuyên sâu thiên về khảo tả chất liệu, kỹ thuật của nghề sơn Việt Nam nói chung và nghề sơn ở các làng nghề truyền thống nói riêng như Kỹ thuật sơn mài của Phạm Đức Cường [31]; Nghề sơn với nghệ thuật trang trí ứng dụng ở Việt Nam của Trần Thị Tuyết Hạnh [40]; Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam - Tập 6: Nghề chế tác đá, nghề sơn và một số nghề khác do Trương Minh Hằng chủ biên [43]; Nghề sơn cổ truyền Việt Nam của Lê Huyên [52]; Làng nghề sơn quang Cát Đằng của Nguyễn Lan Hương [54]; Sơn mài Bình Dương - chất liệu và nghệ thuật thể hiện của Nguyễn Văn Minh [73]; Kỹ thuật, chất liệu của sơn mài Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ XX của Đặng Thị Thu Hiền [44]; Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam của nhiều tác giả [115] v.v .
    Một số làng nghề làm sơn nổi tiếng ở khu vực Hà Nội đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu với nội dung chủ yếu là khảo tả hoạt động của làng nghề trong quá khứ và hiện tại như: Nghề sơn cổ truyền ở Bình Vọng và Hạ Thái của Trương Duy Bích và Trương Minh Hằng [6]; Làng nghề Sơn Đồng của Trương Duy Bích và Nguyễn Thị Hương Liên [7]; Nghề sơn truyền thống làng Hạ Thái - xã Duyên Thái - huyện Thường Tín - tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị [74]; Văn hóa làng Hạ Thái của Hoàng Thị Tố Quyên [94] v.v .
    Tìm hiểu nghề sơn và làng nghề sơn truyền thống ở Việt Nam dưới góc độ biến đổi bước đầu là chủ đề quan tâm của một số nhà nghiên cứu. Có thể kể đến ba công trình tiêu biểu là những luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công, đều thuộc chuyên ngành Văn hóa dân gian và chủ yếu sử dụng phương pháp tiếp cận của chuyên ngành này như tiếp cận không gian văn hóa, tiếp cận thành tố văn hóa . Trước tiên là luận án Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị, được bảo vệ năm 2008, công trình sau đó cũng được xuất bản thành sách có cùng tên [75]. Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền thống ở Hà Tây cũ (nay là Hà Nội) với hệ thống các làng nghề sơn đang và đã từng hoạt động trên địa bàn tỉnh, trong đó tập trung khảo sát chủ yếu ba làng nghề được đánh giá là những làng nghề sơn truyền thống tiêu biểu của tỉnh Hà Tây cũ là Bình Vọng, Hạ Thái và Sơn Đồng. Nhìn tổng thể, công trình này đã phác họa thành công diện mạo nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây thông qua việc miêu tả khá chi tiết nghề sơn ở một số làng nghề tiêu biểu. Đặc biệt, đóng góp đáng kể nhất của luận án là đề cập đến những biến đổi đã và đang diễn ra ở nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây thông qua trường hợp ba làng Bình Vọng, Hạ Thái và Sơn Đồng. Tác giả nhận định rằng: xét trên bình diện rộng, nghề sơn ở Hà Tây trong lịch trình thời gian luôn có sự biến động. Có những làng, nghề sơn được hình thành từ rất sớm xong lại bị lụi tàn, có làng thì nghề sơn được tiếp nhận sau nhưng lại duy trì được và phát triển nhân rộng ra các làng mới. Sự biến động của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội qua nhiều thời kỳ cũng đồng hành với sự vận động, biến đổi của nghề sơn tỉnh Hà Tây ở nhiều khía cạnh như biến đổi về hoạt động nghề, về kỹ thuật, về chất liệu, mẫu mã sản phẩm, về tư duy hoạt động nghề, về kinh tế, xã hội, môi trường .
    Tiếp theo sau công trình Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị là luận án Nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi) của Nguyễn Lan Hương được bảo vệ năm 2009. Công trình này sau đó đã được xuất bản thành sách dưới tên gọi Làng nghề sơn quang Cát Đằng xưa và nay [57]. Bằng cách áp dụng các lý thuyết và phương pháp tiếp cận của chuyên ngành văn hóa dân gian, công trình đã tái hiện diện mạo nghề và làng nghề sơn quang truyền thống Cát Đằng ( xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) trong sự vận động không ngừng theo thời gian, qua đó đánh giá vị trí của làng nghề này trong hệ thống các làng nghề ở châu thổ Bắc Bộ. Có thể coi đây là một trong những công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về nghề sơn quang và làng nghề sơn quang Cát Đằng. Đây cũng là một trong số ít công trình tiêu biểu mở đầu cho hướng nghiên cứu chuyên sâu về sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở Việt Nam cũng như ở châu thổ Bắc Bộ thông qua một trường hợp cụ thể là nghề sơn quang làng Cát Đằng.
    Gần đây nhất, năm 2013, tác giả Lê Thanh Hương đã bảo vệ thành công luận án Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại [58]. Với đối tượng nghiên cứu là những chất liệu và kỹ thuật sử dụng trong chế tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở các làng nghề, cũng như trong sáng tác các tác phẩm sơn mài hội họa của các họa sĩ chuyên nghiệp (đặc biệt tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 1925 đến nay), nhìn tổng thể, công trình này đã trình bày tương đối toàn diện và hệ thống những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật sơn mài Việt Nam cùng vai trò và vị trí của nó trong nền văn hóa dân tộc. Ở góc độ cụ thể hơn, luận án đã hệ thống hóa khá rõ nét những thay đổi của chất liệu và kỹ thuật của nghề sơn qua các giai đoạn khác nhau dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan. Đồng thời, xác định rõ hai yếu tố này là những yếu tố căn bản tạo nên sức sống, bản sắc của nghề sơn truyền thống cũng như có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng, sáng tạo của các nghệ nhân và nghệ sĩ sơn mài. Trên cơ sở đó, luận án đi đến khẳng định rằng: sự vận động, biến đổi là quy luật khách quan, yếu tố tạo nên sự đa dạng và phát triển, thể hiện sức sáng tạo phong phú của các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân. Kết quả nghiên cứu của luận án này đã góp phần bổ sung vào mảng chủ đề nghiên cứu về sự biến đổi của nghề sơn trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam.
    Có thể kết luận, mặc dù việc nghiên cứu nghề sơn truyền thống không phải là mảng vấn đề mới song vẫn còn khoảng trống để các công trình tiếp theo nghiên cứu bổ sung. Bởi lẽ, nghề sơn truyền thống ở một vài địa phương vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu để tương xứng với tiềm năng của ngành nghề cổ truyền này, trong đó nghề sơn ở các làng Bối Khê - huyện Phú Xuyên và Vũ Lăng - huyện Thanh Oai là những trường hợp tương đối điển hình. Hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng cho đến thời điểm hiện tại hầu như chưa được nghiên cứu ngoại trừ việc được nhắc đến có tính chất liệt kê, điểm qua ở một số công trình như Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây của Nguyễn Xuân Nghị [75], bài viết Hà Tây với truyền thống sơn mài của Nguyễn Văn Chuốt [26] và một số bài trên Internet với nội dung giới thiệu đôi nét về làng nghề trong hoạt động quảng bá du lịch.
    Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đã trình bày trên đây, tôi lựa chọn đề tài Sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), thành phố Hà Nội hiện nay làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học. Hy vọng rằng, từ quan điểm tiếp cận liên ngành, việc tìm ra được bản chất, nguyên nhân và cơ chế biến đổi của nghề sơn truyền thống ở trường hợp các làng nghề cụ thể là Bối Khê và Vũ Lăng sẽ giúp định hướng cho ngành nghề cổ truyền này có thể tồn tại, thích nghi và phát triển trong xu hướng biến đổi tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một xã hội đang chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp như Việt Nam. Đề tài luận án là sự bổ sung cần thiết vào những khoảng trống nghiên cứu về nghề sơn truyền thống ở châu thổ Bắc Bộ nói chung và khu vực Hà Nội nói riêng theo hướng nghiên cứu trường hợp cụ thể, chuyên sâu - là hướng nghiên cứu đang được ưu tiên trong khoa học xã hội nhân văn hiện nay. Ở một mức độ nào đó, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có giá trị gợi ý và làm cơ sở so sánh ở những nghiên cứu tương tự về nghề sơn truyền thống tại các làng nghề khác. Sau cùng, luận án là sự tiếp nối các công trình nghiên cứu về nghề sơn (ở Việt Nam và trên thế giới) của nghiên cứu sinh từ năm 2004 đến nay.
    2. Mục đích nghiên cứu
    2.1. Mục đích tổng quát
    - Luận án chứng minh sự biến đổi là quy luật tất yếu khách quan để nghề sơn truyền thống ở các làng nghề như Bối Khê và Vũ Lăng có thể duy trì và phát triển trong bối cảnh đương đại.
    - Luận án hướng đến xác lập những căn cứ khoa học và thực tiễn để tham khảo định hướng cho nghề sơn truyền thống ở hai làng nghề phát triển trong tương lai.
    2.2. Mục tiêu cụ thể
    - Hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến nghề sơn truyền thống ở Việt Nam, khu vực Hà Nội và các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng.
    - Tìm hiểu diện mạo của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng, Hà Nội trong diễn trình lịch sử bao gồm các yếu tố như nguồn gốc xuất hiện, kỹ thuật chế tác, cơ cấu tổ chức nghề, tâm lý làm nghề
    - Xác định những giá trị tiêu biểu của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng, Hà Nội; đối chiếu, so sánh với nghề sơn ở các làng nghề khác của Hà Nội nói riêng và vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung, qua đó làm rõ những nét riêng biệt và những đóng góp của nghề sơn ở hai làng này cho di sản văn hóa dân tộc.
    - Phân tích những biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng, Hà Nội dưới tác động của cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa - mà thực chất đó là sự va chạm giữa truyền thống - hiện đại, thích nghi - biến đổi, bảo tồn - phát triển.
    - Xây dựng luận cứ khoa học trong việc định hướng để nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê, Vũ Lăng nói riêng cũng như các làng nghề khác ở khu vực Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ nói chung có thể duy trì và phát triển trong thời điểm hiện tại và tương lai theo hướng: trên cơ sở gìn giữ, kế thừa các giá trị truyền thống vốn có, tiếp thu những thành tựu hiện đại, tiên tiến để sáng tạo những giá trị mới phù hợp với thời đại mới, qua đó bổ sung và làm đa dạng thêm bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ Đổi mới.
    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
    3.1. Đối tượng nghiên cứu
    Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), Tp. Hà Nội trong quá trình vận động, biến đổi theo thời gian để thích nghi tồn tại. Đây vốn là hai làng nghề sơn có lịch sử khá lâu đời và đã khẳng định được đặc trưng riêng ở các kỹ thuật cơ bản của nghề sơn truyền thống là sơn mài, sơn thếp và sơn quang. Tuy nhiên, để làm rõ diện mạo và sự đóng góp của nghề sơn ở các làng nghề trên, luận án sẽ mở rộng tìm hiểu nghề sơn truyền thống ở một số làng khác trong khu vực Hà Nội cũng như vùng châu thổ Bắc Bộ dưới góc nhìn liên hệ, so sánh.
    3.2. Phạm vi nghiên cứu
    - Phạm vi không gian: Nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai), Tp. Hà Nội trong bối cảnh các làng nghề sơn vùng châu thổ Bắc Bộ.
    - Phạm vi thời gian: Nghiên cứu, tìm hiểu nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng từ năm 1945 đến nay (2013) với các mốc thời gian cụ thể gắn với những biến đổi trong nghề sơn truyền thống ở hai làng.
    4. Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận
    4.1. Cơ sở lý luận
    4.1.1. Một số khái niệm thao tác
    Nghề sơn truyền thống
    Ở Việt Nam cho đến nay, đã có nhiều học giả đưa ra quan niệm về nghề truyền thống như Mai Thế Hởn, Bùi Văn Vượng, Trần Minh Yến Qua tổng hợp chúng tôi nhận thấy hầu hết các ý kiến đều thống nhất với nhau ở những tiêu chí của một ngành nghề thủ công truyền thống, đó là: Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta; Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề, xã nghề; Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề; Có kỹ thuật và công nghệ truyền thống; Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu; Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hóa, vừa có tính nghệ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa mang bản sắc văn hóa Việt Nam; Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước [47, tr.16-17], [124, tr.11-12], [126, tr.11].
    Trong số nhiều quan niệm về nghề truyền thống, chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng khái niệm nghề truyền thống được tổng hợp và nêu ra bởi tác giả Trần Minh Yến như là một trong những cơ sở lý luận của luận án.
    Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc [126, tr.12].
    Chúng tôi xem đây là một trong những khái niệm hàm chứa khá đầy đủ và chi tiết những tiêu chí cơ bản của một ngành nghề truyền thống. Ngoài ra, khái niệm này cũng đã được nghiên cứu và mở rộng hơn, phù hợp với bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, kéo theo việc can thiệp, hỗ trợ sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống của các quy trình công nghệ mới cũng như các loại nguyên vật liệu mới [126, tr.12]. Từ trường hợp nghiên cứu của luận án, có thể thấy nghề sơn cũng là một trong số hơn 2000 nghề thủ công truyền thống của đất nước. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm về nghề truyền thống của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đưa ra định nghĩa về nghề sơn truyền thống trong bối cảnh hiện nay và coi đó là khái niệm mang tính công cụ của luận án.
    Nghề sơn truyền thống là một trong những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện lâu đời trên đất nước ta, được truyền từ đời này qua đời khác và tồn tại đến ngày nay, ở đó, ngoài những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền thống được sáng tạo và lưu truyền bởi các thế hệ nghệ nhân còn bao gồm cả những phương pháp chế tác được cải tiến hoặc những loại máy móc hiện đại được sử dụng để hỗ trợ sản xuất, song về cơ bản vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và sản phẩm vẫn thể hiện những nét văn hóa độc đáo của dân tộc.
    Làng nghề sơn truyền thống
    Tương tự như sự đa dạng trong quan niệm về nghề truyền thống, làng nghề trên phương diện tổng thể cũng được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm tùy theo chuyên ngành và mục tiêu nghiên cứu, song đa số các ý kiến đều đi đến thống nhất nền tảng cơ bản của làng nghề là:
    Nghề phải nuôi sống dân cư hoặc một bộ phận dân cư của cộng đồng làng; Sản xuất ra các sản phẩm thủ công; Có đội ngũ thợ thủ công chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp lành nghề; Có bí quyết và quy trình làm nghề nhất định; Sản phẩm của làng nghề là sản phẩm tiêu biểu của vùng miền [114, tr.28].
    Theo một cách hiểu, làng nghề truyền thống được khái quát dựa trên hai khái niệm nghề truyền thống làng nghề [126, tr.16]. Chúng tôi đã nêu ở trên khái niệm về nghề truyền thống được lựa chọn sử dụng là một trong những cơ sở lý luận của luận án, từ đó đưa ra khái niệm nghề sơn truyền thống. Về khái niệm làng nghề, chúng tôi nhận thấy quan niệm về làng nghề của nhà nghiên cứu Trương Minh Hằng rất phù hợp với trường hợp nghiên cứu của luận án là hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng. Theo đó, chúng tôi lựa chọn khái niệm làng nghề dưới đây của tác giả làm một trong những cơ sở lý luận cần thiết tiếp theo của luận án.
    Làng nghề gắn liền với các vùng nông nghiệp và người nông dân làm nghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông nghiệp là mùa vụ Một làng có nghề, đời sống của người dân ổn định và được nâng cao so với các làng thuần nông. Nghề thủ công từ vị trí chỉ là nghề phụ được tổ chức và thực thi vào những khi nông nhàn, rồi về sau nhiều nghề trở thành nguồn thu nhập chính của làng Ở một góc độ nào đó, làng nghề còn mang tính chất của một làng buôn [42, tr.9-10].
    Trên cơ sở khái niệm nghề sơn truyền thống, khái niệm làng nghề đã được lựa chọn sử dụng của tác giả Trương Minh Hằng cùng việc kế thừa quan điểm của một số nhà nghiên cứu khác, chúng tôi đưa ra định nghĩa về làng nghề sơn truyền thống trong bối cảnh hiện nay và coi đó là khái niệm mang tính công cụ tiếp theo trong luận án.
    Làng nghề sơn truyền thống vốn là làng nông nghiệp, trong đó có duy trì thực hành qua nhiều thế hệ nghề sơn truyền thống vốn đã tồn tại và phát triển lâu đời với ít nhất 50% số hộ gia đình chuyên sống bằng nghề sơn, là nơi quy tụ đội ngũ nghệ nhân và thợ lành nghề sử dụng kỹ thuật truyền thống với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại ở mức độ nhất định để chế tác và bán những sản phẩm độc đáo mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương và bản sắc dân tộc.
    Biến đổi nghề sơn truyền thống
    Chúng ta đều biết rằng, mọi sự vật hiện tượng (trong đó bao gồm cả các hiện tượng văn hóa) đều nằm trong quá trình vận động và biến đổi không ngừng. Sự vận động, biến đổi này có thể do tự thân nội tại sự vật hiện tượng, cũng có thể do các tác nhân bên ngoài[114, tr.34]. Hiểu một cách đơn giản nhất, theo Từ điển Tiếng Việt, biến đổi là sự đổi khác [98, tr.95] hay biến đổi là thay đổi thành khác trước [82, tr.61]. Trong khoa học xã hội nhân văn - đặc biệt là xã hội học, thuật ngữ biến đổi thường được quan tâm dưới góc độ biến đổi xã hội. Xoay quanh chủ đề biến đổi xã hội, có nhiều quan điểm lý thuyết về biến đổi xã hội như thuyết tiến hóa, thuyết duy chức năng, thuyết duy xung đột Trong đó, những vấn đề mà các nhà xã hội học quan tâm thường là: quá trình biến đổi một hiện tượng xã hội diễn ra như thế nào, xu hướng biến đổi, nguyên nhân của sự biến đổi [114, tr.34]. Trong những năm gần đây, thuật ngữ biến đổi còn được biết đến phổ biến hơn trong các công trình nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài như Lương Văn Hy [130], Nguyễn Duy Bắc [4], Nguyễn Thị Phương Châm [17], Lương Hồng Quang [90], Louise S. Spindler [132], Ronald Inglehart, Wayne E. Baker [131] với rất nhiều quan điểm khác nhau về biến đổi văn hóa. Một trong số đó, tác giả Nguyễn Duy Bắc trong một công trình nghiên cứu đã cho rằng: “ Một cách hiểu rộng nhất, đó là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng văn hóa hoặc một nền văn hóa có trước dưới tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội” [4, tr.36]. Liên hệ với đề tài luận án chúng tôi nhận thấy quan niệm này rất gần với vấn đề nghiên cứu sự biến đổi nghề sơn truyền thống tại hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng, do vậy, chúng tôi chọn khái niệm này như là cơ sở lý luận thứ ba của luận án.
    Dựa trên cơ sở lý luận là các khái niệm về biến đổi nói chung và biến đổi văn hóa nói riêng, theo chúng tôi, nghề sơn truyền thống với tư cách là một hiện tượng văn hóa, ở góc độ nào đó có thể hiểu sự biến đổi nghề sơn truyền thống chính là sự biến đổi/thay đổi các thành tố cơ bản cấu thành nghề sơn truyền thống như nguyên vật liệu, quy trình chế tác, sản phẩm, thị trường tiêu thụ - khách hàng, hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh, nguồn nhân lực, vấn đề truyền dạy nghề, đời sống sinh hoạt của thợ nghề dưới sự tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội. Đây là khái niệm mang tính chất công cụ sau cùng được chúng tôi quan tâm và sử dụng trong luận án này.
    4.1.2. Một số luận điểm khoa học
    Biến đổi nghề thủ công truyền thống cũng chính là một biểu hiện trong sự đa dạng của biến đổi văn hóa. Hơn nữa, nghề truyền thống ở Việt Nam chủ yếu tồn tại và vận động trong một không gian cụ thể, đó là làng (thực chất vốn là những làng nông nghiệp). Vì vậy, tác giả luận án quan tâm tới các lý thuyết, luận điểm nghiên cứu về biến đổi văn hóa, đặc biệt là biến đổi văn hóa ở làng quê của các học giả trong và ngoài nước. Luận án đi vào nghiên cứu sự biến đổi nghề sơn truyền thống trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay nên tác giả đã chọn một số luận điểm khoa học làm điểm tựa lý thuyết định hướng cho nghiên cứu của mình, đó là:
    - Luận điểm về biến đổi văn hóa ở làng là một quá trình tất yếu trong bối cảnh hiện nay được thể hiện trong một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học: Lương Văn Hy [130], Tô Duy Hợp [48], Phan Đại Doãn [32], Lương Hồng Quang [90], Nguyễn Thị Phương Châm [17] .
    Từ định hướng của luận điểm khoa học nêu trên, luận án sẽ chứng minh tính tất yếu của quá trình biến đổi nghề sơn truyền thống ở các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng được thể hiện xuyên suốt trên trục thời gian tồn tại và phát triển của nghề truyền thống này. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố biến đổi thì vẫn có một số yếu tố gần như bất biến và nó có vai trò nhất định trong quá trình tồn tại và phát triển của nghề sơn.
    - Luận điểm về biến đổi nghề truyền thống và làng nghề truyền thống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình đa dạng về các mô hình biến đổi và các cấp độ biến đổi được thể hiện trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả: Mai Thế Hởn [47], Trần Minh Yến [126], Dương Bá Phượng [86] . Liên hệ với đề tài luận án, chúng tôi cũng đã nhận thấy một quá trình biến đổi có tính chất đa dạng về mô hình và cấp độ biến đổi trong các khía cạnh của nghề sơn truyền thống ở các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng trước sự chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.
    4.2. Phương pháp tiếp cận
    Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của luận án là nghề sơn truyền thống trong quá trình biến đổi đa dạng và phức tạp, chúng tôi lựa chọn phương pháp tiếp cận liên ngành Văn hóa học với hy vọng đó là phương pháp tiếp cận hữu hiệu nhất cho đề tài luận án bởi xét về mặt lý thuyết thì: “Văn hóa học - như là một khoa học độc lập mang tính tổng hợp và liên ngành” [99, tr.226], theo đó “Văn hóa học xem xét văn hóa với tư cách là một hiện tượng xã hội tổng thể, vì thế nó cần phải nghiên cứu cùng một lúc nhiều phương diện của một hiện tượng và bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau” [99, tr.192]. Phương pháp tiếp cận liên ngành có sự đóng góp khoa học của nhiều chuyên ngành khác nhau sẽ là một trong những công cụ lý thuyết hỗ trợ để nhìn ra những yếu tố biến đổi của nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng từ cả hai góc độ hiện tượng và bản chất. Phương pháp tiếp cận liên ngành Văn hóa học được triển khai áp dụng cụ thể trong nghiên cứu sự biến đổi nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng như sau:
    Với đối tượng nghiên cứu là nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng trong quá trình vận động biến đổi tương đối đa dạng, chúng tôi coi trọng sự trải nghiệm cá nhân trên thực địa với phương pháp điền dã dân tộc học. Bởi vì, phương pháp này sẽ giúp thu thập được nguồn thông tin phong phú, đa dạng để giải quyết các vấn đề của luận án. Hơn nữa, những kết quả nghiên cứu từ thực địa cũng đóng vai trò quan trọng để các vấn đề nghiên cứu của luận án được trình bày, chứng minh chính xác hơn và đáng tin cậy hơn. Thử lấy một ví dụ: nếu như không có những phương pháp nghiên cứu thực địa như quan sát tham dự, phỏng vấn và quan sát cá nhân, phỏng vấn nhóm . tại hai làng Bối Khê và Vũ Lăng thì khó có thể hiểu được ý nghĩa, bản chất của những biến đổi đang diễn ra ở nghề sơn truyền thống hiện nay, thậm chí còn có thể xảy ra sự ngộ nhận, nhầm lẫn hay áp đặt suy nghĩ chủ quan của nhà nghiên cứu thường có xu hướng bảo tồn những giá trị truyền thống, theo đó dễ dẫn đến quan điểm hoài cổ, phê phán các yếu tố biến đổi và thậm chí là phủ nhận sự biến đổi. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức được về vai trò của phương pháp khái quát thực tế hay cụ thể hơn là phương pháp mô hình hóa những thông tin tư liệu thu được từ quá trình điều tra thực địa để đề cập, liên hệ đến cái chung có ý nghĩa phổ quát chứ không chỉ đơn thuần là những mô tả về từng trường hợp riêng lẻ như Bối Khê hay Vũ Lăng. Kết quả nghiên cứu của luận án ở mức độ nào đó còn có giá trị liên hệ với các làng nghề sơn truyền thống khác ở châu thổ Bắc Bộ.
    Mô tả dân tộc học vẫn cần thiết song là chưa đủ khi một trong những mục đích của đề tài luận án là chứng minh sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở hai làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng là tất yếu và cần thiết trong bối cảnh đương đại. Nhằm đạt được điều này, chúng tôi thực hiện thao tác phân tích - so sánh. Theo đó, các kết quả nghiên cứu sẽ được đúc rút từ việc phân tích - so sánh các sự việc, hiện tượng ở một số vùng địa lý khác nhau, qua đó để tìm ra cái khái quát và cả những cái đặc thù. Điều đó có nghĩa là, trong quá trình nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần phải tiến hành mô tả phân tích để vừa hiểu được các sắc thái đa dạng của hiện tượng văn hóa đồng thời lại đưa ra được những đặc điểm chung. Trong luận án sẽ có sự phân tích - so sánh nghề sơn truyền thống ở các cấp độ: nghề sơn ở Việt Nam với nghề sơn ở một số quốc gia khác, nghề sơn ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng trong quá trình tồn tại và phát triển của nó, nghề sơn ở hai làng với nghề sơn tại một số làng nghề khác ở châu thổ Bắc Bộ . Bên cạnh đó, việc phân tích - so sánh còn được thực hiện ở nguồn thông tin thu được từ các đối tượng được phỏng vấn là các nghệ nhân, các nhà nghiên cứu với những nhà quản lý và thi hành chính sách. Có thể nói, thao tác phân tích - so sánh sẽ được chúng tôi thực hiện xuyên suốt trong từng bước của quá trình nghiên cứu từ phát triển khung nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu tại thực địa, xử lý thông tin và viết báo cáo.
    Ngoài ra, chúng tôi còn lưu ý đến những bối cảnh (quá khứ và hiện tại) mà nghề sơn truyền thống tồn tại với những sự kiện, những vấn đề ảnh hưởng tác động lên nó. Để nghiên cứu bối cảnh của nghề sơn, chúng tôi chủ trương mở rộng trọng tâm của nghiên cứu ra khỏi từng cá nhân đơn lẻ cũng như kiến thức và thực hành của họ. Thay vào đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu các động lực xã hội như sự khó khăn về kinh tế, các nhu cầu đòi hỏi về mặt chính trị, xã hội, văn hóa . Đây chính là những yếu tố sẽ giúp giải thích các hành động của chủ thể văn hóa, tránh được cái nhìn phiến diện, chủ quan khi nghiên cứu. Có thể nói rằng nghiên cứu về bối cảnh chính là tìm câu trả lời cho câu hỏi “Ai đang nói (hoặc làm) gì và tại sao?”.
    Ở những đề tài có liên quan đến việc lý giải sự biến đổi của một trong những hiện tượng, quá trình văn hóa như luận án thì sự kết hợp các phương pháp lịch đại và đồng đại sẽ giúp cho nhà nghiên cứu có cái nhìn “tọa độ“ (tức cách nhìn đối chiếu những yếu tố của hiện tượng trong không gian và thời gian xác định) trong các phân tích, tổng hợp và diễn giải các sự kiện, hiện tượng văn hóa [99, tr.202-203]. Vận dụng vào trong luận án, chúng tôi khảo cứu nghề sơn truyền thống tại hai làng Bối Khê và Vũ Lăng ở 3 tọa độ: nghề sơn truyền thống thời kỳ trước năm 1954, nghề sơn truyền thống từ sau năm 1954 đến trước năm 1986 và nghề sơn truyền thống từ năm 1986 đến nay. Ở mỗi tọa độ này, các thành tố của nghề sơn truyền thống sẽ được đề cập trong từng bối cảnh xã hội cụ thể. Tổng hợp các vấn đề nghiên cứu từ ba tọa độ này sẽ tìm ra được những kết luận chân thực về những yếu tố bất biến và khả biến của nghề sơn truyền thống ở hai làng cũng như lý giải được những tác nhân của quá trình biến đổi này. Như vậy, luận án với đối tượng nghiên cứu là nghề sơn truyền thống dưới góc nhìn văn hóa học thì việc kết hợp hai hướng đồng đại và lịch đại chính là cách để có thể hiểu và giải thích được các hiện tượng văn hóa một cách sâu sắc.
    Xuất phát từ các vấn đề nghiên cứu đặt ra trong luận án, ngoài hai luận điểm khoa học được sử dụng làm điểm tựa lý thuyết mang tính định hướng đã nêu ở trên, chúng tôi cũng quan tâm đến một trong những mô hình lý thuyết có tầm quan trọng hàng đầu trong phân tích xã hội và văn hóa là “thuyết xung đột” với quan điểm của các nhà tư tưởng như M. Weber, R. Dahrendorf . Họ chỉ ra rằng các mâu thuẫn và xung đột không chỉ là đặc trưng, mà còn giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Đồng thời, họ đưa ra những lý giải về sự kết nối không ngừng, các va chạm của những lực lượng xã hội khác nhau để tạo ra sự hội nhập và biến đổi xã hội trên cơ sở của quyền lực, của sự ép buộc hay sự theo đuổi những lợi ích kinh tế và chính trị trong hoạt động thực tiễn của con người. Nhìn chung, những lý giải nêu trên đều thống nhất với nhau ở một điểm: mâu thuẫn và xung đột xã hội là hiện tượng có tính chất phổ biến trong các xã hội và các nền văn hóa khác nhau. Vận dụng lý thuyết xung đột trong phân tích văn hóa, cụ thể là ở trường hợp nghề sơn truyền thống trong đề tài luận án này có thể nhận thấy sự xung đột (hay tương tác ) diễn ra ở nhiều cấp độ, nhiều phương diện trong hệ thống các yếu tố của nghề sơn truyền thống, mà ở góc độ phổ quát nhất chính là xung đột giữa truyền thống - hiện đại, giữa thích nghi - biến đổi, giữa bảo tồn - phát triển, giữa kinh tế - văn hóa cùng với đó là những lý do xã hội tiềm ẩn đằng sau những xung đột ấy.
    Việc khai thác chức năng dự báo và chức năng quản lý các vấn đề xã hội của ngành xã hội học cũng được chúng tôi quan tâm trong luận án, bởi đây sẽ là cơ sở giúp nhận thức được những thuộc tính của nghề sơn truyền thống ở hai làng, từ đó có thể đưa ra xu hướng tương lai và cung cấp cứ liệu khoa học có tính khả thi cho việc hoạch định chính sách quản lý. Theo đó, xu hướng vận động của nghề sơn truyền thống ở hai làng trong thời gian tới cũng được bàn đến dựa trên kết quả khảo sát thực trạng nghề sơn truyền thống và cơ sở lý luận của đề tài luận án là một số cơ sở lý thuyết, luận điểm khoa học như chúng tôi đã đề cập ở phần trên. Trên cơ sở quán triệt quan điểm coi trọng mối quan hệ hai chiều: lãnh đạo các cấp và nhân dân làng nghề, đồng thời căn cứ vào những kết quả thực nghiệm có được từ cách tiếp cận văn hóa học mang tính liên ngành, chúng tôi cũng nêu ra định hướng phát triển cho nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng trong tương lai.
    Ở đề tài luận án, xét dưới góc độ triết học văn hóa, nghề sơn truyền thống - một hiện tượng văn hóa được chúng tôi tiếp cận với tư cách là một phương diện đời sống xã hội. Quá trình mô tả văn hóa là tất yếu phải có, song cái đích cuối cùng mà luận án cần phải đạt được chính là tìm ra được bản chất của quá trình biến đổi này là gì và lý giải nó bằng tư duy logic được tổng hợp từ kiến thức liên ngành của văn hóa học. Với ý nghĩa là một phương diện đời sống xã hội thì văn hóa vốn là cái biến đổi liên tục như cuộc sống vốn có, nhưng ở mức độ nào đó, vẫn bảo lưu nhiều giá trị có sức sống trường tồn. Đó là những giá trị tổng hòa chân - thiện - mỹ cộng hưởng trong một khách thể văn hóa qua thời gian được giữ lại, trở thành khuôn mẫu và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà người ta gọi là bản sắc. Thực chất, sự biến đổi nghề sơn truyền thống ở hai làng nghề chính là một biểu hiện trong đa dạng của biến đổi văn hóa mà ở đó bao gồm cả các yếu tố khả biến (biến đổi) và các yếu tố bất biến (không hoặc ít biến đổi). Xét về mặt lý thuyết, các yếu tố khả biến với danh nghĩa là cấu trúc bề mặt, là những biểu hiện bên ngoài và biến đổi liên tục mà người ta gọi là những biến số, là yếu tố động của văn hóa. Thực tế, văn hóa được bao chứa trong các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội và trên bình diện đó các sáng tạo, hoạt động văn hóa bao giờ cũng mang tính xã hội và thường xuyên biến đổi. Liên hệ với khách thể nghiên cứu của đề tài luận án là nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng, những yếu tố biến đổi chủ yếu là nhóm yếu tố dễ chịu sự ảnh hưởng, tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội như nguyên liệu, quy trình chế tác, sản phẩm, thị trường tiêu thụ - khách hàng, hoạt động tổ chức sản xuất và kinh doanh, nguồn nhân lực, đời sống sinh hoạt của nhân dân làng nghề, môi trường
    Các yếu tố bất biến với danh nghĩa là cấu trúc chiều sâu, là cấu trúc bên trong của văn hóa và ít biến đổi mà người ta gọi là hằng số, là yếu tố tĩnh của văn hóa. Nó là cái gốc điều chỉnh mọi sinh hoạt đời sống giữ cho xã hội tính liên tục, tính ổn định và nằm sâu trong tâm thức, trong đức tin tâm linh của con người, khắc họa nên bản sắc văn hóa của tộc người này khác với tộc người khác. Qua khảo sát tại các làng nghề Bối Khê và Vũ Lăng, có thể nhận thấy các yếu tố không hoặc ít biển đổi trong quá trình vận động của nghề sơn dường như không nổi trội bằng các yếu tố động. Điều này là dễ hiểu bởi nghề sơn truyền thống như bất cứ một hiện tượng văn hóa nào khác đang chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bối cảnh toàn cầu hóa. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng, sự tồn tại của những hằng số - yếu tố tĩnh có vẻ phổ biến hơn ở các làng nghề sơn truyền thống chuyên về hàng đồ thờ như Vũ Lăng. Lý do có lẽ bởi mặt hàng này gắn với đời sống tâm linh vốn khá tĩnh tại và không dễ gì thay đổi cùng với quy định nghề nghiệp đòi hỏi tính chuẩn mực cao, có phần khắt khe hơn so với các làng nghề làm đồ thủ công mỹ nghệ thiên về sự năng động do phải phụ thuộc nhiều vào thị hiếu khách hàng. Trong khi các làng nghề như Bối Khê đã rất thịnh hành việc dùng nhiều chất liệu mới hiện đại trong việc làm cốt/vóc như đã đề cập, thì Vũ Lăng vẫn duy trì chất liệu gỗ truyền thống từ bao đời nay trong chế tác đồ thờ. Hoặc như các loại hình sản phẩm vốn đã nằm trong một hệ thống chuẩn của các làng nghề chế tác đồ thờ cũng gần như không có gì thay đổi so với trước. Trên bình diện cấu trúc chiều sâu đó còn là những đức tin tâm linh ở nghề chế tác đồ thờ (quan niệm về tầm quan trọng của chữ Tâm trong chế tác đồ thờ để mỗi sản phẩm (nhất là tượng thờ) có được cái hồn và đảm bảo được tính thiêng vẫn được coi trọng) và những hệ thống giá trị của nghề sơn truyền thống ở cả hai làng nghề. Nghề sơn truyền thống như bất kỳ một hiện tượng văn hóa nào chứa đựng hệ giá trị phổ quát là chân - thiện - mỹ, trong đó cái Đẹp hướng con người tới lý tưởng, tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ và cái thiêng. Cái Đẹp luôn được xem là hệ giá trị cao nhất, là chuẩn mực bao quát nhất, vì vậy, cho dù nguyên liệu, công nghệ chế tác có thay đổi thì thành quả cuối cùng của nghệ nhân vẫn là những sản phẩm mà ở đó tiêu chí Đẹp luôn được coi trọng hàng đầu. Hiện tượng nhiều sản phẩm sơn truyền thống hiện nay có chất lượng không cao lắm song vẫn có hình thức bên ngoài bắt mắt hấp dẫn được khách hàng là ví dụ khá rõ về vấn đề này. Một khía cạnh nữa cũng cần phải nói tới đó là: mặc dù ở các làng nghề như Bối Khê, Vũ Lăng đang thịnh hành lối sản xuất mới hiện đại, song bí quyết nghề nghiệp với những ngón nghề vẫn đang được cất giữ, bảo lưu trong tâm thức của mỗi nghệ nhân. Chính vì vậy, khi được chúng tôi phỏng vấn, phần lớn các nghệ nhân làng nghề đều cho biết: hiện nay họ đang chế tác đồ sơn theo công nghệ mới nhưng nếu được yêu cầu chế tác sản phẩm bằng chất liệu sơn ta hoàn toàn theo lối truyền thống thì họ vẫn có thể thực hành được một cách thuần thục.
    Từ những yếu tố bất biến và khả biến của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê và Vũ Lăng đã chỉ ra ở trên, có thể nhận thấy mối quan hệ tương tác giữa hai hệ thống có vẻ như đối nghịch này được thực hiện theo nguyên tắc: các yếu tố động dù thường xuyên biến đổi vẫn theo một trật tự nhất định nào đó. Cụ thể, đó là quá trình biến đổi xuyên suốt lịch sử tồn tại và phát triển của nghề sơn truyền thống - quá trình ấy dường như đã trở thành quy luật, luôn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mang tính sống còn của nghề sơn truyền thống là “sản xuất cho ai?”. Đôi khi, cái quy định sự biến đổi vừa trực tiếp vừa gián tiếp của nghề sơn truyền thống chính lại là hệ giá trị nằm sâu bên dưới, mà sâu xa nhất chính là tâm thức “sinh nghề tử nghiệp”, bằng mọi giá để giữ và duy trì được nghề truyền thống của các nghệ nhân làng nghề.
    Có thể kết luận, ở nghề sơn truyền thống của hai làng Bối Khê và Vũ Lăng, bên cạnh những yếu tố biến đổi khá đa dạng, một số giá trị có vẻ mang tính chất tĩnh tại song thực chất vẫn bị biến đổi dù rất chậm chạp. Hiện tượng tâm thức nghề nghiệp là một trong những ví dụ điển hình. Và như thế, nghề sơn truyền thống với ý nghĩa là một hiện tượng văn hóa mà văn hóa với ý nghĩa là phương diện đời sống xã hội sẽ không phải là cái gì nhất thành bất biến, mà cũng như mọi sự vật hiện tượng khác, đều biến đổi. Khác với những biến đổi chính trị, kinh tế thường là sự biến đổi mang tính đột phá, cách mạng, nhiều khi là bột phát, biến đổi văn hóa như hiện tượng biến đổi của nghề sơn truyền thống ở hai làng nghề mang tính tiệm tiến bởi vì văn hóa là sự kế thừa và phải thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người - nhu cầu thẩm mỹ (làm đẹp) và nhu cầu thực dụng (sử dụng). Đó chính là mối quan hệ giữa tính liên tục và sự đứt đoạn, giữa truyền thống và cách tân. Sau cùng, chính sự tương tác giữa những yếu tố bất biến với những yếu tố khả biến của nghề sơn truyền thống ở hai làng Bối Khê và Vũ Lăng đã góp phần đưa đến một số hệ quả văn hóa - xã hội sẽ được đề cập ở dưới đây.

    Xem Thêm: Sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), thành phố Hà Nội hiện nay
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Sự biến đổi của nghề sơn truyền thống ở các làng Bối Khê (huyện Phú Xuyên) và Vũ Lăng (huyện Thanh Oai), thành phố Hà Nội hiện nay sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu
Tài liệu mới

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status