Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18495 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO

    Khóa luận tốt nghiệp: Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG --------***-------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP [ơ Đề tài: PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO Sinh viên thực hiện : TRẦN HẢI YẾN Lớp : ANH 6 Khóa : K41B - KTNT Giáo viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN ĐÌNH THỌ Hà Nội, 11 - 2006
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO MỤC LỤC Danh mục các từ viết tắt v Danh mục các bảng biểu vi Danh mục các hình vi Phần mở đầu 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ỞVIỆT NAM 1.1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 3 1.1.1. Khái niệm thị trường dịch vụ tài chính . 3 1.1.2. Khái quát chung về thị trường dịch vụ Ngân hàng Dịch vụ ngân hàng 5 1.1.2.1.Dịch vụ trên thị trường ngân hàng . 5 1.1.2.2.Các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng . 7 1.1.3.Các yếu tố cấu thành thị trường dịch vụ ngân hàng . 8 1.1.3.1.Các đối tượng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng . 8 1.1.3.2.Giá cả các dịch vụ tài chính 8 1.1.3.3.Hệ thống quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính . 11 1.2.CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI MỞ CỬA HỘI NHẬP THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG . 19 1.2.1. Hội nhập quốc tế thị trường dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng . 19 1.2.1.1.Bản chất Hội nhập Quốc tế về Dịch vụ Tài chính . 20 1.2.1.2.Các xu hướng quốc tế hóa trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam . 23 1.2.2. Cơ hội và thách thức đối với một nền kinh tế khi quyết định mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng 24 1.2.3. Quá trình cải cách và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính của Trung Quốc – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG, QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM 31 2.1.1. Khái quát chung về cơ cấu ngành ngân hàng Việt Nam 31 Trần Hải Yến – Anh6-K41B i
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO 2.1.1.1. Cơ cấu của ngành ngân hàng Việt Nam 31 2.1.1.2. Sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam 34 2.1.1.3. Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam 43 2.1.2. Những cam kết và nghĩa vụ của Việt Nam khi mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ ngân hàng 49 2.1.2.1. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) . 49 2.1.2.2. Hiệp định chung về thương mại Dịch vụ (GATS) và tổ chức thương mại thế giới WTO . 50 2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM 51 2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam51 2.2.1.1 Các chỉ số tài chính cơ bản . 51 2.2.1.2 Lợi nhuận và các chỉ số kinh doanh khác 53 2.2.2. Những thành tựu đạt được của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam55 2.2.2.1 Môi trường ngành cạnh tranh 55 2.2.2.2 Nhu cầu cao về dịch vụ ngân hàng 56 2.2.2.3 Các ngành liên quan tới ngành ngân hàng . 57 2.2.3. Những tồn tại của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam . 58 2.2.3.1 Về năng lực tài chính 58 2.2.3.2 Về trình độ công nghệ, thông tin và quản trị điều hành . 59 2.2.3.3 Về nhân lực 59 2.2.3.4 Môi trường ngành và năng lực cạnh tranh . 59 2.3. PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM KHI MỞ CỬA HỘI NHẬP – MÔ HÌNH PHÂN TÍCH SWOT . 61 2.3.1. Điểm mạnh 61 2.3.1.1 Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định . 61 2.3.1.2 Về đối tác chiến lược 62 2.3.1.3 Vị thế thị trường . 62 2.3.2. Điểm yếu 63 2.3.2.1 Về thể chế . 63 2.3.2.2 Về cơ cấu 64 2.3.2.3 Về tài chính 65 Trần Hải Yến – Anh6-K41B ii
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO 2.3.2.4 Về năng lực 66 2.3.3. Cơ hội 67 2.3.3.1 Mở rộng quy mô thị trường . 67 2.3.3.2 Sự tham gia của ngân hàng nước ngoài . 68 2.3.4. Thách thức . 69 2.3.4.1 Phía cung của ngành ngân hàng 69 2.3.4.2 Phía cầu của ngành ngân hàng 70 2.3.4.3 Hiện đại hóa ngân hàng 71 2.3.4.4 Cổ phần hóa ngân hàng . 72 CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG NGÂN HÀNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP VÀO WTO . 73 3.1.1. Định hướng chung về chiến lược phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng và tiến trình hội nhập kinh tế . 73 3.1.1.1. Quan điểm có tính nguyên tắc về phát triển dịch vụ ngân hàng 73 3.1.1.2. Mục tiêu phát triển dịch vụ ngân hàng . 74 3.1.1.3. Định hướng chiến lược phát triển lĩnh vực ngân hàng trong hội nhập kinh tế quốc tế 75 3.1.2. Định hướng phát triển đối với một số sản phẩm dịch vụ ngân hàng chủ yếu 76 3.1.2.1. Dịch vụ huy động vốn 76 3.1.2.2. Dịch vụ tín dụng và đầu tư cho nền kinh tế 77 3.1.2.3. Dịch vụ thanh toán . 78 3.1.2.4. Dịch vụ ngoại hối và các dịch vụ khác . 79 3.1.3. Đối với các đối tượng kinh doanh và sử dụng dịch vụ ngân hàng . 79 3.1.3.1.Đối với Ngân hàng Nhà nước . 79 3.1.3.2. Đối với các NHTM Nhà nước 82 3.1.3.3.Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần . 84 3.1.3.4.Đối với các quỹ tín dụng nhân dân 85 3.1.3.5. Đối với DN và khách hàng sử dụng . 86 Trần Hải Yến – Anh6-K41B iii
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO 3.2.MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP WTO . 88 3.2.1.Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước 88 3.2.1.1.Về môi trường pháp lý và chính sách 88 3.2.1.2.Về chiến lược phát triển và hội nhập . 89 3.2.2.Đối với các tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng . 91 3.2.2.1.Về hệ thống tổ chức và quản lý . 91 3.2.2.2. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng . 94 3.2.2.3.Tăng cường năng lực tài chính 97 Kết luận 99 Tài liệu tham khảo Trần Hải Yến – Anh6-K41B iv
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ATM Thẻ/máy rút tiền tự động ATM ACB Ngân hàng Thương mại Châu á AFTA Hiệp định chung về thương mại tự do ASEAN BTA Hiệp định Thương mại Việt Mỹ BTC Trung tâm đào tạo ngân hàng CAR Hệ số An toàn Vốn DNNN Doanh nghiệp Nhà nước DSTTNK Doanh số thanh toán nhập khẩu DSTTXK Doanh số thanh toán xuất khẩu FDI Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài GATS Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ HTX Hợp tác xã IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế MFN Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc MNC Công ty đa Quốc gia MOF Bộ Tài chính MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư NDT Đồng nhân dân tệ (Trung Quốc) NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần NHTMNN Ngân hàng Thương mại Nhà nước NHTMNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam No&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn NPL Nợ Quá Hạn OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế PBC Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc POC Địa điểm rút tiền PTTT Phương tiện thanh toán ROA Tỷ lệ sau thuế trên Tổng tài sản ROE Tỷ lệ sau thuế trên Vốn tự có SPB Ngân hàng Chính sách SWOT Điểm mạnh-điểm yếu-cơ hội-thách thức SWAP Hoán đổi ngoại tệ TCTD Tổ chức Tín dụng TMQD Thương mại Quốc doanh UNDP Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc USD Đô la Mỹ VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam VND Đồng Việt Nam WB Ngân hàng Thế giới Trần Hải Yến – Anh6-K41B v
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO WTO Tổ chức Thương mại Thế giới DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1: Lộ trình chính sách . 22 Bảng 2: Ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng tại Việt Nam . 31 Bảng 3: Thị phần của các ngân hàng thương mại Việt Nam 32 Bảng 4: Thị phần của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam 34 Bảng 5: Tình hình huy động vốn của các NHTMNN, 2001 – 2005 36 Bảng 6: Doanh số thanh toán xuất, nhập khẩu – Vietcombank, 2001 – 2005 . 38 Bảng7: Quy mô hệ thống ngân hàng Việt Nam 51 Bảng8: Vốn chủ sở hữu của một số NHTMCP, 2001 – 2005 . 52 Bảng 9: Hệ số an toàn vốn của các NHTMNN, 2004 – 2005 . 52 Bảng10: Lợi nhuận trước thuế của một số NHTMCP 53 Bảng11: Lợi nhuận sau thuế của các NHTMNN 54 Bảng12 : Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên Tổng tài sản (ROA) của một số NHTMCP 54 Bảng13: Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên Vốn tự có (ROE) của một số NHTMCP . 55 Bảng14: Chỉ số ROA và ROE của các NHTMNN, 2005 . 55 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Số lượng tài khoản mở tại các ngân hàng Việt Nam, 2001 – 2005 35 Hình 2a, 2b: Thẻ tín dụng nội địa và quốc tế phát hành . 39 Hình 3: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, 2001 – 2005 . 43 Hình 4: Cơ cấu cán cân vốn của Việt Nam, 2001 – 2004 . 44 Hình 5: Tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, 2000 – 2005 45 Hình 6: Cơ cấu tổng phương tiện thanh toán năm 2004 . 46 Hình 7: Tín dụng đối với từ nền kinh tế, 2001 – 2005 . 47 Hình 8: Huy động vốn từ nền kinh tế, 2001 – 2005 48 Hình 9: Lợi nhuận trước thuế của hệ thống ngân hàng Việt Nam, 2000 – 2005 . 53 Trần Hải Yến – Anh6-K41B vi
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO PHẦN MỞ ĐẦU Hội nhập kinh tế toàn cầu là một trong những hiện tượng kinh tế toàn cầu nổi bật nhất cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21. Các nền kinh tế phát triển đang ngày càng đẩy mạnh sự gia tăng các luồng thương mại và đầu tư trên toàn thế giới. Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá dĩên ra mạnh mẽ như vậy, các nền kinh tế đang phát triển cũng đang dần mở cửa cùng với việc tăng cường của các thể chế kinh tế quốc tế và quyền lực của các công ty xuyên quốc gia trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay, hội nhập kinh tế là một xu thế không thể tránh khỏi đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Để bắt nhịp với xu thế đó, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế: ký kết hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và đã gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) – ngày 07/11/2006, đồng thời tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế quốc tế cũng như các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương mại song phương khác. Trong bối cảnh hội nhập đó, có thể nói thị trường dịch vụ ngân hàng là một trong những ngành nhận được sự quan tâm hàng đầu của Nhà nước và được xếp vào diện các ngành chủ chốt, cần được tái cơ cấu nhằm ngân cao năng lực cạnh tranh. Điều này là do ngân hàng là một trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm và phải mở cửa gần như hoàn toàn theo các cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào, tận dụng các cơ hội của quá trình hội nhập mang lại ra sao, đồng thời làm cách nào có thể biến thách thức thành cơ hội để không những có thể giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập mà còn không phải chịu thua thiệt ngay trên “sân nhà”. Điều này đòi hỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam phải có sự chuẩn bị kỹ càng, phải nỗ lực lớn trong quá trình cải cách và phải phối hợp chặt chẽ với các Chính phủ và các cơ quan bộ ngành để có thể định hướng phát triển bền vững. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng ngành ngân hàng Việt Nam để từ đó đề xuất một số các giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính – ngành ngân hàng đã và đang trở thành một yêu cầu mang tính cấp thiết trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu sắc như hiện nay. Trần Hải Yến – Anh6-K41B 1
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO Dựa trên cơ sở đó, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO” làm đề tài cho nghiên cứu khóa luận của mình. Mục đích nghiên cứu - Nêu rõ thực trạng phát triển của hệ thống ngành ngân hàng Việt Nam hiện nay, dùng làm cơ sở để phân tích năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam – dưới góc độ mô hình SWOT trong quá trình mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính khi Việt Nam gia nhập WTO. - Đề xuất một số giải pháp để phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: là hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam - Pham vi nghiên cứu: do khuôn khổ của khóa luận nên chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển, những điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống các ngân hàng Việt Nam có ảnh hưởng tới quá trình mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính, và các cơ hội, thách thức mà ngành ngân hàng Việt Nam phải đối mặt trong quá trình hội nhập kinh tế. Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng tổng hợp các phương pháp phi thực nghiệm, phương pháp thống kê và một số phương pháp khác để làm rõ kết quả nghiên cứu. Kết cấu khóa luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu làm 3 chương: Chương I : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ỞVIỆT NAM Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG, QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM Chương III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO Trần Hải Yến – Anh6-K41B 2
    Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO Do thời gian nghiên cứu và hạn chế về năng lực nghiên cứu nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong có được sự ủng hộ và góp ý của các thầy cô trong trường, các bạn độc giả để khóa luận được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Trần Hải Yến – Anh6-K41B 3
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 1.1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 1.1.1. Khái niệm thị trường dịch vụ tài chính Theo Phillip Cotler: Dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình, và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Dịch vụ tài chính gắn liền với nền kinh tế thị trường. Đó là các loại hình dịch vụ theo cách hiểu chung bao gồm: dịch vụ ngân hàng; dịch vụ trên thị trường vốn; dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính Dịch vụ tài chính đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế: nó giúp cho việc tăng cường chuyên môn hóa trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra sự thay đổi lớn trong việc xóa dần và chuyển từ độc quyền cung cấp dịch vụ của Nhà nước sang các thành phần kinh tế khác; là quá trình làm gia tăng giá trị của sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Khái niệm dịch vụ tài chính tuy là một khái niệm mới nhưng khái niệm này đã được nghiên cứu khá nhiều và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, do tính chất quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh mở cửa và hội nhập như hiện nay thì cần phải có một cách hiểu chung và thống nhất để thuận lợi cho việc phát triển lĩnh vực này tại mỗi nước và trên toàn thế giới. Thị trường dịch vụ tài chính là một khái niệm mới do Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nước thành viên WTO trong hoạt động thương mại dịch vụ. Theo WTO: “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung Trần Hải Yến – Anh6-K41B 3
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”. Theo quan niệm trên của WTO, các loại dịch vụ tài chính được chia thành các loại cơ bản sau:  Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác, bao gồm: Dịch vụ tiết kiệm (tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiết kiệm, tín phiếu, trái phiếu); Cho vay (tín dụng, thuê mua tài chính, cầm cố thế chấp, cho vay ký quỹ, bảo lãnh thanh toán, chiết khấu giấy tờ có giá); Thanh toán (thanh toán, chuyển tiền, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ); Giao dịch (thị trường tiền tệ, ngoại hối); Môi giới đầu tư (môi giới đầu tư chứng khoán ); Tư vấn tài chính.  Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm bao gồm Các loại hình bảo hiểm trực tiếp (bao gồm cả đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm) về trách nhiệm dân sự, tài sản, con người ; Sử dụng quỹ bảo hiểm (đầu tư nguồn vốn bảo hiểm vào các hình thức khác nhau như đầu tư chứng khoán, góp vốn ) và Các dịch vụ phụ trợ liên quan đến bảo hiểm như dịch vụ tư vấn, dịch vụ đánh giá sắc xuất rủi ro, khiếu nại, đại lý bảo hiểm Bên cạnh các loại hình dịch vụ tài chính nêu trên, có một số loại dịch vụ kinh doanh có liên quan chặt chẽ và mật thiết đến dịch vụ tài chính, đó là dịch vụ kế toán. Dịch vụ kế toán bao gồm các loại hình dịch vụ cơ bản là tư vấn thuế, tư vấn kế toán và kiểm toán Quá trình hoạt động của các dịch vụ kế toán, kiểm toán diễn ra song song và có mối quan hệ chặt chẽ với các dịch vụ tài chính khác. Do vậy, trên khía cạnh nghiên cứu và quản lý, chúng ta có thể xếp các loại hình dịch vụ này vào loại hình dịch vụ tài chính. Thị trường dịch vụ tài chính là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch các loại hình dịch vụ tài chính nêu trên. Nói cách khác, thị trường dịch vụ tài chính là tổng hợp các mối quan hệ về tổ chức, quản lý và vận hành các hoạt động giao dịch các loại dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ kế toán, kiểm toán và dịch vụ tài chính khác. Trần Hải Yến – Anh6-K41B 4
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam Trên cơ sở phân tích trên, có thể phân chia các loại hình dịch vụ tài chính thành 4 nhóm cơ bản sau:  Dịch vụ ngân hàng  Dịch vụ trên thị trường vốn  Dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm  Dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính 1.1.2. Khái quát chung về thị trường dịch vụ Ngân hàng Dịch vụ ngân hàng 1.1.2.1.Dịch vụ trên thị trường ngân hàng Các loại hình dịch vụ ngân hàng bao gồm: a) Nhận tiền gửi: Các ngân hàng nhận các khoản tiết kiệm của khách hàng, dưới dạng quỹ sinh lời được gửi tại ngân hàng với những thời hạn và lãi suất khác nhau. b) Cung cấp các tải khoản giao dịch: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ mở tài khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người mở tài khoản viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. c) Quản lý tiền mặt: Ngân hàng cung ứng dịch vụ cho các công ty kinh doanh trong việc quản lý các khoản thu và chi, tiến hành việc đầu tư phần thặng dư tiền mựt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. d) Trao đổi ngoại tệ (dịch vụ ngoại hối): Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ đứng ra mua, bán một đồng tiền lấy đồng tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Hiện nay, do sự phát triển của thị trường ngoại hối, dịch vụ ngân hàng về ngoại hối rất đa dạng và có nhiều dịch vụ cao cấp như: hoán đổi, quyền chọn, kỳ hạn, giao sau cung cấp cho khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh tế đối ngoại những công cụ hiệu quả phòng ngừa rủi ro hối đoái. đ) Dịch vụ về tín dung: Đây là loại hình dịch vụ rất đa dạng, bao gồm các loại hình cơ bản sau: Trần Hải Yến – Anh6-K41B 5
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam  Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Ngân hàng nhận chiết khấu thương phiếu của các doanh nghiệp, theo đó, các doanh nhân bán các khoản nợ (phải thu) của các khách hàng của họ cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Thực chất, việc ngân hàng thực hiện chiết khấu thương phiếu là bước tiếp chuyển tiếp sang việc ngân hàng cho vay trực tiếp đối với khách hàng để họ có vốn mua hàng dự trữ, mua thiết bị  Cho vay tài trợ dự án: Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng các dự án mới, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao. Do rủi ro của loại hình tín dụng này cao nên chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư thành viên của công ty sở hữu ngân hàng.  Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho cá nhân và hộ gia đình vay. Ở các nước phát triển, cho vay tiêu dùng chiếm một tỷ trọng đáng để trong cơ cấu tín dụng ngân hàng. e) Dịch vụ ủy thác: Các ngân hàng thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp. Theo đó, ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô vốn được ủy thác. Đối với các cá nhân, thông qua phòng ủy thác của ngân hàng, khách hàng có thể tiết kiệm tiền cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó đến khi khách hàng cần sử dụng. Ngoài ra, các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác thực hiện di chúc, quản lý tài sản cho các khách hàng đã qua đời thông qua việc công bố tài sản, bảo quản tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp nhận được khoản thừa kế. Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và quản lý kế hoạch tiền lương. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu và trả lãi hoặc cổ tức cho các chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khón khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho những người nắm giữ chứng khoán. Trần Hải Yến – Anh6-K41B 6
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam g) Cho thuê tài chính: Đây là dịch vụ khá phổ biến, ngân hàng cho khách hàng là doanh nghiệp lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó, ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Khách hàng phải trả tiền thuê thiết bị, chịu chi phí sửa chữa và thuế. h) Tư vấn tài chính: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư vấn về tiết kiệm và đầu tư. Hiện nay, dịch vụ tư vấn tài chính của các ngân hàng rất đa dạng và phong phú: từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân, doanh nghiệp đến tư vấn cơ hội kinh doanh, tư vấn thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng. i) Bán các dịch vụ bảo hiểm: Các ngân hàng thực hiện việc bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng nhằm đảm bảo việc hoàn trả của khách hàng khi họ rơi vào tình trạng không thể trả được nợ. k) Môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng của họ cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác mà không cần phải thông qua các nhà môi giới chứng khoán khác. l) Dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp: Hợp đồng trợ cấp là kế hoạch tiết kiệm dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai (ví dụ ngày nghỉ hưu). Dịch vụ quỹ tương hỗ chính là việc cung cấp các chương trình đầu tư một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu hay chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (tối đa hóa thu nhập hoặc tăng giá trị của vốn). 1.1.2.2.Các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng a) Các tổ chức nhận tiền gửi: Dịch vụ tài chính cơ bản mà các trung gian tài chính loại này cung cấp ra thị trường là dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ liên quan đến ngân hàng, trong đó quan trọng nhất là dịch vụ tiền gửi và cho vay tín dụng. Các tổ chức nhận tiền gửi được tổ chức dưới các hình thức: Ngân hàng thương mại, Hiệp hội tiết kiệm và cho vay, Ngân hàng tiết kiệm tương trợ và Liên hiệp tín dụng. Trần Hải Yến – Anh6-K41B 7
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam b) Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng: Đó là các loại công ty bảo hiểm, công ty tái bảo hiểm và các quỹ trợ cấp các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm nhằm mục đích chính là phân tán và chia sẻ rủi ro trong nền kinh tế, bên cạnh đó là huy động vốn qua phí bảo hiểm, hoặc là tiền đống góp của người làm công và các ông chủ, sau đó đầu tư lại số vốn này cho nền kinh tế thông qua thị trường tài chính hoặc đầu tư trực tiếp dưới hình thức góp vốn. 1.1.3.Các yếu tố cấu thành thị trường dịch vụ ngân hàng 1.1.3.1.Các đối tượng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng a) Chính phủ Chính phủ tham gia vào thị trường dịch vụ ngân hàng với tư cách là người cần dịch vụ ngân hàng trong trường hợp Chính phủ tiến hành huy động các nguồn tài chính phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển nền kinh tế – xã hội như phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương. b) Các tổ chức kinh tế – xã hội Các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội là những khách hàng quan trọng nhất của dịch vụ ngân hàng trên cả hai phương diện cung và cầu các nguồn tài chính. c) Dân cư Khách hàng thứ ba của thị trường dịch vụ tài chính là các tầng lớp dân cơ, họ chủ yếu là khách hàng của thị trường dịch vụ ngân hàng khi tham gia vào các dịch vụ gửi tiết kiệm,vay vốn Bên cạnh đó, các tần lớp dân cư cũng tham gia tích cực hơn vào thị trường dịch vụ ngân hàng thông qua việc sử dụng hiệu quả hơn lợi ích từ sự phát triển của thị trường này thông qua các hình thức tín dụng tiêu dùng, tín dụng trả góp, vay vốn lập doanh nghiệp tư nhân. 1.1.3.2.Giá cả các dịch vụ tài chính a) Khái niệm về giá cả dịch vụ tài chính – dịch vụ ngân hàng Giá cả dịch vụ tài chính được hiểu một cách chung nhất là khoản chi phí mà tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ tài chính phải trả cho các nhà cung cấp loại hình dịch vụ Trần Hải Yến – Anh6-K41B 8
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam tài chính đó, và đây cũng chính là nguồn thu của các tổ chức kinh doanh các loại dịch vụ tài chính để duy trì sự tồn tại của tổ chức, đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ tài chính và thu lợi nhuận. Tương tự, giá cả dịch vụ ngân hàng là khoản chi phí mà các tổ chức, cá nhân phải trả cho ngân hàng khi muốn sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Bên cạnh chất lượng thì giá cả các dịch vụ ngân hàng chính là một trong những yếu tố cạnh tranh của các ngân hàng để thu hút khách hàng. Biểu hiện cụ thể của giá cả các loại dịch vụ tài chính trên thị trường dịch vụ ngân hàng hiện nay chính là lãi suất huy động tiết kiệm của các tổ chức tín dụng, lãi suất cho vay, phí mở tài khoản b) Ảnh hưởng của giá cả dịch vụ ngân hàng tới sự phát triển của thị trường tài chính và nền kinh tế Giá cả các loại dịch vụ tài chính có tác động lớn đến sự phát triển của thị trường cũng như các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính. Giá cả các loại dịch vụ tài chính quá cao hay quá thấp đều có tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính. Trường hợp giá các loại dịch vụ tài chính quá cao, khách hàng sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ tài chính; ngược lại trong trường hợp giá các loại dịch vụ tài chính quá thấp thì các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, nhiều khả năng dẫn đến thua lỗ và phá sản. Như vậy, trong cả hai trường hợp trên đều đưa đến tác động tiêu cực là thu hẹp thị trường trường dịch vụ tài chính do đó giá cả các loại dịch vụ tài chính phải được xác định ở mức thích hợp theo sự phát triển của nền kinh tế – xã hội, sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính. Trong đó các loại dịch vụ tài chính thì giá cả các loại dịch vụ ngân hàng hiện nay đang rất được chú trọng do vai trò quan trọng của ngành này trong sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập. Trong bối cảnh gia nhập vào WTO thì ngân hàng được coi là ngành “nóng” nhất vì chỉ trên cơ sở ngành ngân hàng phát triển vững mạnh và hội nhập một cách vững vàng thì nền kinh tế Việt Nam mới Trần Hải Yến – Anh6-K41B 9
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam có thể gia nhập WTO thành công. Đặc biệt, các loại dịch vụ như: cho vay, bảo lãnh, thanh toán quốc tế và chuyển tiền đang rất được quan tâm vì những dịch vụ này có tác động rất lớn đến việc thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Khi giá cả dịch vụ ngân hàng – biểu hiện cụ thể là lãi suất ngân hàng tăng cao thì chính các ngân hàng là những tổ chức chịu tổn thất và rủi ro đầu tiên. Một nguyên nhân khách quan như đồng tiền trượt giá khiến cho chỉ số giá tiêu dùng tăng thì để đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền, ngân hàng buộc phải tăng lãi suất tiền gửi. Đây cũng là một nguyên tắc hoạt động của ngân hàng. Khi lãi suất tiền gửi tăng, lãi suất cho vay cũng buộc phải tăng theo. Tuy nhiên để vẫn thu hút được khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng đi vay thì mức tăng lãi suất cho vay không thể tăng tương ứng và thường tăng chậm hơn mức tăng lãi suất tiền gửi. Điều này khiến các ngân hàng phải đối mặt với hai rủi ro lớn đó là: giảm lợi nhuận và mức tăng của nợ khó đòi. c) Các chính sách giá cả dịch vụ ngân hàng để hướng tới sự phát triển nền kinh tế bền vững Căn cứ vào những phân tích trên, chúng ta thấy rõ mức độ ảnh hưởng của giá cả dịch vụ ngân hàng tới sự phát triển của ngành ngân hàng nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Nhưng giá cả của các dịch vụ tài chính cũng như dịch vụ ngân hàng lại được quyết định bởi cả hai tác nhân: Thị trường và Nhà nước. Thị trường chính là cầu nối giữa người cung cấp dịch vụ ngân hàng với người có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng. Thị trường dịch vụ ngân hàng cũng như các loại thị trường dịch vụ khác sẽ chịu tác động của những quy luật của nền kinh tế thị trường: đó là quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và quy luật lưu thông tiền tệ. Do vậy, có rất nhiều yếu tố tác động vào thị trường dịch vụ ngân hàng, từ cả phía cung lẫn phía cầu hoặc từ chính quan hệ cung cầu dịch vụ ngân hàng. Đây cũng chính là các yếu tố căn bản hình thành nên giá cả của các dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết và đưa ra các chính sách giá cả dịch vụ tài chính nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng để hướng tới sự phát triển nền kinh tế bền vững. Mặc dù thị trường vẫn là tác nhân chính Trần Hải Yến – Anh6-K41B 10
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam quyết định giá cả các dịch vụ tài chính nhưng trong trường hợp cần thiết Nhà nước vẫn phải can thiệp vào chính sách giá cả các loại dịch vụ ngân hàng nhằm: + Ngăn chặn tình trạng độc quyền giá cả + Ngăn chặn khả năng xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng bảo vệ quyền lợi chính đáng của các lực lượng tham gia thị trường. + Định hướng chính sách giá cả phục vụ mục tiêu phát triển toàn diện nền kinh tế – xã hội 1.1.3.3.Hệ thống quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính a)Khái quát hệ thống quản lý Nhà nước đối với thị trường dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng Hệ thống khung pháp lý do Nhà nước thiết lập nhằm quy định các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường dịch vụ tài chính nói chung và từng loại thị trường dịch vụ tài chính nói riêng. Đây là căn cứ cơ bản để các đối tượng tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính tiến hành trao đổi, mua bán các loại dịch vụ tài chính, Chính phủ tổ chức thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động của thị trường, xử lý các tranh chấp xảy ra giữa các bên phát sinh trong quá trình hoạt động. Trên cơ sở hệ thống pháp luật đã được ban hành, cần phải tổ chức một hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước để điều hành và quản lý thị trường dịch vụ tài chính theo hệ thống pháp luật này. Trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước đối với thị trường dịch vụ tài chính, Chính phủ là cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý và điều hành mọi hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ của mình, Chính phủ lại phân công quyền hạn và trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan thuộc và trực thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý và điều hành thị trường tài chính – tiền tệ theo từng khía cạnh nhất định trên cơ sở nhiệm vụ được giao. Cụ thể, các cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm quản lý và điều hành thị trường dịch vụ tài chính bao gồm: Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) và các Bộ, ban ngành khác. Trần Hải Yến – Anh6-K41B 11
    Chương I: Tổng quan về thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam Các cơ quan quản lý Nhà nước nêu trên sử dụng hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển kinh tế vĩ mô khác nhau như: Chính sách tài chính khoá, chính sách quản lý nợ, chính sách thâm hụt và thặng dư ngân sách, chính sách thuế, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái để định hướng và quản lý sự phát triển của thị trường, đảm bảo thị trường ngày càng phát triển, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ tốt nhất chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, cơ chế và hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo một số yêu cầu sau: Thứ nhất: quản lý Nhà nước không mang tính quản lý hành chính can thiệp trực tiếp, quá sâu vào hoạt động kinh doanh trên thị trường, mà phải mang tính chất quản lý vĩ mô, định hướng thông qua hệ thống pháp luật và các công cụ thị trường để điều chỉnh thị trường hoạt động theo khuôn khổ pháp luật, phục vụ các mục đích quản lý vĩ mô chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ví dụ, đối với vấn đề quản lý, can thiệp vào lãi suất trên thị trường tín dụng (một loại giá cả quan trọng của dịch vụ ngân hàng), các cơ quan quản lý Nhà nước cần nắm vững quy luật: lãi suất cao thì cầu tín dụng thấp và ngược lại lãi suất thấp thì cầu tín dụng sẽ tăng lên, Nhà nước có thể tác động một cách gián tiếp thông qua cơ chế thị trường: Nhà nước thực hiện cung hoặc cầu một lượng vốn nhất định làm cho lãi suất trên thị trường biến đổi theo định hướng chính sách kinh tế vĩ mô chung của toàn bộ nền kinh tế. Không nên thực hiện chính sách can thiệp trực tiếp: Nhà nước trực tiếp xác định tỷ lệ lãi suất trên thị trường mà nên để thị trường tự điều tiết lãi suất trong nền kinh tế trên cơ sở định hướng của các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Tuy nhiên, đối với các thị trường kém phát triển hoặc trong các trường hợp khẩn cấp, Nhà nước vẫn cần phải điều chỉnh trực tiếp chế đội lãi suất trong nền kinh tế nhằm đảm bảo sự phát triển vững mạnh của cả nền kinh tế – xã hội. Thứ hai: hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo gọn nhẹ, giảm tối thiểu các thủ tục hành chính gây cản trở cho hoạt động của thị trường dich tài chính. Vấn đề chính ở đây là thống nhất và giảm tối thiểu các đầu mối quản lý và điều hành Trần Hải Yến – Anh6-K41B 12

    Xem Thêm: Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status