Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    THẠC SĨ Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991 - 2010)

    D
    dream dream Đang Ngoại tuyến (18524 tài liệu)
    .:: Cộng Tác Viên ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991 - 2010)

    MỤC LỤC
    Trang
    Trang phụ bìa
    Lời cam đoan
    Lời cảm ơn
    Danh mục các chữ viết tắt
    Mục lục
    MỞ ĐẦU 1
    1. Lý do chọn đề tài 1
    2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 2
    3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. 15
    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 16
    5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu. 16
    6. Đóng góp của luận án. 17
    7. Bố cục của luận án. 18
    Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO, AN NINH CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991 – 2010). 19
    1.1. Khái quát về ASEAN và quan hệ chính trị, an ninh ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản trước năm 1991. 19
    1.1.1. Khái quát về ASEAN 19
    1.1.2. Quan hệ chính trị, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản trước năm 1991 21
    1.1.2.1. Quan hệ chính trị, an ninh ASEAN – Trung Quốc trước năm 1991. 21
    1.1.2.2. Quan hệ chính trị, an ninh ASEAN – Nhật Bản trước năm 1991. 28
    1.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh. 35
    1.2.1. Bối cảnh quốc tế. 35
    1.2.2. Bối cảnh khu vực. 37
    1.3. Nhu cầu hợp tác của ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản. 43
    1.3.1. Đối với ASEAN 43
    1.3.2. Nhu cầu của Trung Quốc và Nhật Bản. 45
    1.3.2.1. Điểm tương đồng của Trung Quốc và Nhật Bản. 45
    1.3.2.2. Nhu cầu của Trung Quốc và Nhật Bản. 47
    Chương 2. SỰ TIẾN TRIỂN TRONG QUAN HỆ CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991 – 2010). 55
    2.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao và an ninh song phương của ASEAN với Trung Quốc 55
    2.1.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao. 55
    2.1.2. Quan hệ an ninh (truyền thống và phi truyền thống). 68
    2.1.2.1. Quan hệ an ninh truyền thống. 70
    2.1.2.2. Quan hệ an ninh phi truyền thống. 81
    2.2. Quan hệ chính trị - ngoại giao và an ninh song phương của ASEAN với Nhật Bản 88
    2.2.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao. 88
    2.2.2. Quan hệ an ninh (truyền thống và phi truyền thống). 99
    2.2.1. Quan hệ an ninh truyền thống. 103
    2.2.2. Quan hệ ninh phi truyền thống. 108
    2.3. Quan hệ đa phương về chính trị - ngoại giao, an ninh đa phương của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản. 115
    2.3.1. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao. 116
    2.3.2. Trên lĩnh vực an ninh. 121
    Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO, AN NINH CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991 – 2010). 125
    3.1. Sự tương đồng và khác biệt trong quan hệ chính trị-ngoại giao, an ninh của ASEAN – Trung Quốc và ASEAN – Nhật Bản. 125
    3.1.1. Sự tương đồng. 125
    3.1.2. Sự khác biệt 130
    3.2. Đặc điểm 132
    3.3. Tác động. 137
    3.3.1. Đối với ASEAN 137
    3.3.2. Đối với Trung Quốc. 141
    3.3.3. Đối với Nhật Bản. 143
    3.3.4. Đối với khu vực. 145
    3.3.5. Đối với Việt Nam 147
    3.4. Những thách thức và cơ hội của Trung Quốc và Nhật Bản trong quan hệ với ASEAN 148
    3.4.1. Thách thức. 148
    3.4.2. Những cơ hội 149
    KẾT LUẬN 153
    TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
    DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
    PHỤ LỤC



    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài
    Chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một không gian rộng lớn cho hòa bình và phát triển đối với mọi quốc gia nói riêng và từng khu vực nói chung. Trong đó, xu thế chủ yếu của nhân loại là đối thoại và hợp tác thay cho đối đầu; sức mạnh kinh tế là thước đo quan trọng nhất của thực lực quốc gia. Đồng thời dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, của toàn cầu hoá, nhân loại đã xích lại gần nhau trong sự gắn kết mang tính chất tùy thuộc ngày càng lớn. Tuy nhiên, thế giới cũng tiềm ẩn những nhân tố bất ổn khó lường định. Những vấn đề mang tính toàn cầu tiếp tục nảy sinh và biến động phức tạp đang là những thách thức nghiêm trọng đòi hỏi có sự hợp tác của các quốc gia để cùng nhau giải quyết. Tại Đông Nam Á, cùng với những thuận lợi do bối cảnh chung mang lại và sự phát triển năng động về kinh tế, thì cục diện chính trị, an ninh cũng tiềm ẩn nhiều bất trắc xuất phát từ an ninh truyền thống, phi truyền thống và sự cạnh trạnh chiến lược giữa các nước lớn, trong đó nổi lên gay cấn nhất là tranh chấp Biển Đông. Với tầm quan trọng của mình, Đông Nam Á trở thành một không gian địa chiến lược và địa chính trị vào loại nhạy cảm ở châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời, sau Chiến tranh lạnh khu vực này là nơi mà sự đan xen và tương tác quyền lực giữa các nước lớn rất phức tạp, với trạng thái cạnh tranh diễn ra quyết liệt, trong khi sự dung hòa lợi ích và quyền lực giữa họ cũng rất thiếu ổn định.
    Trong bối cảnh đó, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc và Nhật Bản đều nhận thức được môi trường hòa bình là nhu cầu và cũng là điều kiện cho sự phát triển của mỗi nước. Hơn nữa, hợp tác kinh tế giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản dù có phát triển nhanh sau Chiến tranh lạnh nhưng sẽ thiếu bền vững nếu không được đặt trên cơ sở của mối quan hệ chính trị, an ninh; bởi thông qua quan hệ chính trị, an ninh mới có thể giải quyết những vấn đề thách thức ngay chính trong từng cặp quan hệ. Để có một không gian chiến lược rộng mở, ngay sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, ASEAN đã kịp thời tạo lập các cơ chế hợp tác đa dạng tại khu vực nhằm lôi kéo các đối tác bên ngoài tham gia, nhất là các nước lớn, bao gồm cả hai quốc gia láng giềng là Trung Quốc và Nhật Bản. Trong khi đó, Trung Quốc và Nhật Bản vừa là hai nước lớn, vừa có mối quan hệ nhiều mặt, sâu rộng và chặt chẽ với ASEAN. Thông qua lợi thế về vị trí địa-kinh tế, địa-chính trị gần gũi với Đông Nam Á, cả hai nước đều mong muốn có sự ủng hộ của ASEAN để hiện thực hóa chiến lược nước lớn trong vai trò lãnh đạo khu vực, rồi từ đó đi ra thế giới. Chính những lợi ích đan cài trên đã ràng buộc và thúc đẩy quan hệ chính trị, an ninh ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản ngày càng phát triển theo hướng đối tác chiến lược. Đồng thời, đây là ba lực lượng chính trị chủ chốt của khu vực, do đó mối quan hệ này có ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ quốc tế tại khu vực, trong đó về cơ bản đã góp phần to lớn vào sự ổn định, phát triển của Đông Nam Á, tạo ra xung lực thúc và đẩy tiến trình hợp tác vì hòa bình và phát triển của khu vực Đông Á cũng như châu Á – Thái Bình Duơng.
    Việt Nam là quốc gia thành viên của ASEAN nhưng đồng thời cũng là đối tác quan trọng của Trung Quốc và Nhật Bản tại khu vực. Việc phát huy vai trò của mình trong ASEAN và tận dụng môi trường ổn định xung quanh có được, cũng như kịp thời đưa ra những quyết sách phù hợp nhằm đối phó trước những thách thức nảy sinh từ mối quan hệ này là sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, dù quan trọng như vậy nhưng hiện tại ở Việt Nam, giới nghiên cứu chỉ chú trọng đến quan hệ trên lĩnh vực kinh tế giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản, còn khía cạnh chính trị, an ninh chưa được đầu tư đúng mức. Việc nghiên cứu, làm rõ những bước phát triển trong quan hệ chính trị, an ninh giữa ASEAN với các cường quốc khu vực, luận giải những nhân tố tác động, đánh giá và kiến giải về những thành công, hạn chế của các mối quan hệ trên cũng góp phần nhận diện rõ ràng và đầy đủ hơn không chỉ tiến trình quan hệ mà cả những kinh nghiệm cũng như tác động của nó đến tình hình khu vực. Với ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn như trên, tôi đã chọn vấn đề “Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991- 2010)” làm đề tài luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử thế giới.
    2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
    Kế thừa những thành tựu của các giai đoạn trước, bước vào thập niên cuối cùng của thế kỉ XX và thập niên đầu của thế kỉ XXI, thế giới đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các quốc gia châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Á. Sau Chiến tranh lạnh, dù có dấu hiệu suy giảm nhưng Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Trong lúc đó, Trung Quốc sau thời gian cải cách mở cửa, nhất là từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã gặt hái những thành công, phát triển nhanh chóng như “người khổng lồ vươn vai dậy sau một giấc ngủ dài”. ASEAN đến cuối thế kỷ XX đã mở rộng thành phần bao gồm hầu hết các quốc gia tại Đông Nam Á, được coi là tổ chức khu vực thành công nhất sau Liên minh châu Âu (EU). Với vị thế trên, cả ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản đều là những nhân tố chủ chốt có ảnh hưởng quan trọng, thậm chí đang tạo ra sự dịch chuyển trên cả bàn cờ quan hệ khu vực lẫn quốc tế. Vì vậy, việc nghiên cứu từng chủ thể độc lập cũng như mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản nhằm kiến giải sự vận động hiện nay của Đông Á, trên cơ sở đó có cái nhìn về tương lai châu Á – Thái Bình Dương trong thế kỉ XXI được giới chính trị và học giả quan tâm. Bởi thế, trong khi tiến hành đề tài tác giả luận án đã tiếp cận được những nguồn tài liệu vừa phong phú về hình thức, vừa đa dạng về nội dung, vừa đa chiều về quan điểm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Để tiện cho việc nhận xét, tác giả luận án trình bày theo thực trạng nghiên cứu trong nước và ngoài nước.
    2.1. Tình hình nghiên cứu vấn đề ở trong nước
    Trong Chiến tranh lạnh, việc nghiên cứu về Trung Quốc, Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á cũng như ASEAN đã được đề cập ở các nghiên cứu nhưng dưới dạng lồng ghép trong các công trình thông sử hoặc là công trình độc lập. Nội dung chủ yếu là mô tả về lịch sử, văn hóa của các thực thể trên. Tình trạng này phần nào được khắc phục khi thế giới, khu vực có những thay đổi theo chiều hướng tích cực từ nửa sau những năm 80 của thế kỉ XX, nhất là sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (1995), trong bối cảnh đất nước đang từng bước hội nhập khu vực và quốc tế, nhu cầu tìm hiểu về các quốc gia láng giềng nói riêng và thế giới nói chung được đặt ra cấp thiết. Việc nghiên cứu ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản do đó cũng được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau: từ nghiên cứu riêng từng nước đến mối quan hệ giữa các quốc gia này thể hiện trên hai phương diện song phương và đa phương. Tình hình nghiên cứu vấn đề quan hệ chính trị, an ninh giữa ASEAN với Trung Quốc và với Nhật Bản có thể thấy như sau:
    2.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu riêng về từng bên
    a.Những công trình nghiên cứu về ASEAN: Liên quan đến những nghiên cứu về ASEAN đầu tiên phải kể đến tuyển tập Đông Nam Á trên đường phát triển (1993) do Phạm Nguyên Long chủ biên; là tập hợp tám bài viết của các tác giả khác nhau. Các bài viết đã bước đầu tìm hiểu khái quát những vấn đề cơ bản của ASEAN; liên quan đến đề tài luận án là các bài: “Đông Nam Á: triển vọng về sự liên kết và hợp tác khu vực” của Phạm Đức Dương, “Đông Nam Á trước những thách đố của lịch sử” của Hồng Quang, “Điều chỉnh chiến lược của các nước lớn sau Chiến tranh lạnh và tác động của nó tới khu vực Đông Nam Á” của Phạm Nguyên Long. Các công trình trên đã đề cập tình hình khu vực và vị trí của Đông Nam Á trong chính sách của Trung Quốc và Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh. Tiếp sau đó là một loạt công trình về ASEAN như Hiệp hội các nước Đông Nam Á (1995) của Vụ ASEAN – Bộ Ngoại giao, ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam do Đào Huy Ngọc chủ biên (1997), Tiến tới một ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển bền vững (2001) của Nguyễn Duy Quý, Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỉ XXI (2006) do Phạm Đức Thành chủ biên, Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa (2002), Những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI (2006) do Trần Khánh chủ biên, Vai trò của Việt Nam trong ASEAN (2007) của Thông tấn Xã Việt Nam, Việt Nam gia nhập ASEAN từ năm 1995 đến nay thành tựu, vấn đề và triển vọng (2012) do Nguyễn Thị Quế - Nguyễn Hoàng Giáp đồng chủ biên Điểm chung của các công trình trên là đã tập trung làm sáng tỏ một cách toàn diện về quá trình hình thành và phát triển của ASEAN qua các chặng đường lịch sử. Các công trình trên ít nhiều đề cập đến chính sách của ASEAN cũng như những nét chính về mối quan hệ song phương giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, trong đó có Trung Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu về ASEAN nên mối quan hệ với các đối tác ngoài khu vực chỉ là những nét chấm phá nhằm minh họa thành tựu của ASEAN.
    Liên quan đến vấn đề an ninh của ASEAN, công trình Kênh đối thoại không chính thức về an ninh chính trị - Kênh 2 của ASEAN (2010) của Luận Thùy Dương đã lí giải sự ra đời của Kênh 2 như một sự bổ sung cho kênh 1 khi ASEAN đóng vai trò trong cấu trúc an ninh mới tại khu vực và hóa giải những thách thức đến từ phía của Hiệp hội và các đối tác ngoài khu vực. Mặc dù tiếp cận vấn đề chính trị, an ninh dưới góc độ Kênh 2 nhưng công trình này cũng đã phần nào tái hiện được những nhu cầu an ninh cũng như nỗ lực của ASEAN trước những thách thức và nói lên tính phức tạp của vấn đề này. Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu mang tính chất phác thảo khi đề cập đến quan hệ chính trị, an ninh giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài như là để minh họa cho vai trò Kênh 2 trong đời sống chính trị tại khu vực mà thôi.
    Công trình của nhóm tác giả do Trần Khánh chủ biên với tiêu đề Hiện thực hóa cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN vấn đề và triển vọng (2013) đã tập trung phân tích sâu mô hình tiến tới Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN, trong đó có đề cập đến những thách thức lẫn cơ hội đến từ các nhân tố khách quan mà rõ ràng nhất là sự cạnh tranh địa chính trị của các nước lớn, bao gồm cả Trung Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, công trình này chỉ phân tích quá trình thực hiện Kế hoạch hành động của ASEAN về xây dựng Cộng đồng chính trị - an ninh, chứ không đề cập mối quan hệ giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài.
    Liên quan chặt chẽ đến các vấn đề khu vực ASEAN là những nghiên cứu về Biển Đông và xung đột trên Biển Đông bởi không chỉ các nước Đông Nam Á mà nhiều quốc gia khác bên ngoài khu vực có lợi ích trực tiếp và gián tiếp ở Biển Đông. Nhiều hội thảo cấp quốc gia và quốc tế tổ chức ở Việt Nam đã tập hợp được các học giả hàng đầu trong nước và thế giới về Biển Đông tham dự, đồng thời hình thành mạng lưới nghiên cứu về Biển Đông từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như khoa học pháp lý, chính trị, quan hệ quốc tế nhằm tạo diễn đàn để các nhà nghiên cứu chia sẻ quan điểm, thảo luận về những vấn đề gây tranh cãi từ góc độ pháp lý và lợi ích quốc gia. Nội dung của các hội thảo tập trung vào ba cụm vấn đề chính: (i) tầm quan trọng của Biển Đông trong khu vực cũng như trên toàn cầu trong bối cảnh của môi trường quốc tế; (ii) những diễn biến gần đây ở Biển Đông và những hệ lụy đối với hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực; và (iii) những phương thức và phương tiện để duy trì hòa bình, ổn định và tăng cường hợp tác ở Biển Đông. Ngoài hội thảo, vấn đề Biển Đông được đề cập trong các công trình nghiên cứu của giới học giả trong nước, chẳng hạn như Trần Khánh“Tranh chấp Biển Đông nhìn từ gốc độ địa chính trị”(2012); Hoàng Khắc Nam “Hệ thống xung đột quốc tế ở Biển Đông: Thực trạng và đặc điểm”(2012), Đặng Xuân Thanh “Tình huống chiến lược Biển Đông” (2012) Những công trình trên với cách tiếp cận đa diện đã tái dựng khá cập nhật và đầy đủ vấn Biển Đông đặt trong bối cảnh quan hệ của khu vực cũng như quan hệ ASEAN – Trung Quốc.
    b. Những công trình nghiên cứu về Trung Quốc và Nhật Bản
    Sự quan tâm của giới nghiên cứu trong nước đối với Trung Quốc và Nhật Bản thể hiện qua số lượng công trình cũng như sự đa dạng về góc độ tiếp cận. Các công trình nghiên cứu tình hình phát triển chung của hai nước trên như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 60 năm xây dựng và phát triển (2010) do Viện Nghiên cứu Trung Quốc thực hiện; Nhật Bản trên con đường cải cách (2004) của Dương Phú Hiệp và Phạm Hồng Thái. Các công trình trên giới thiệu những nét chính về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của những quốc gia này.
    Chính sách đối ngoại và vị thế quốc tế của hai quốc gia trên trong bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh lạnh là vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu. Nhóm công trình do Lê Văn Mỹ biên soạn và chủ biên như Cộng hòa nhân nhân Trung Hoa ngoại giao trong bối cảnh quốc tế mới (2007), Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hai mươi năm đầu thế kỉ XXI (2011), Phùng Thị Huệ với Trung Quốc trong khu vực: vị thế và thách thức (2010), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh (2000) của Ngô Xuân Bình, Nhật Bản và chiến lược đối ngoại đến 2020 (2010) của Nguyễn Phương Hồng. Trong các công trình trên, các tác giả đã tập trung phân tích đường hướng đối ngoại của hai nước này đối với thế giới sau Chiến tranh lạnh, trong đó có đề cập đến những điều chỉnh về chính sách của họ với khu vực Đông Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng. Theo các tác giả trên, sau các đối tác lớn như Mỹ, ASEAN với tư cách là một khu vực láng giềng gần gũi, với vị thế ngày càng quan trọng đã trở thành đối tác chiến lược của cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản trên con đường xác lập vai trò nước lớn tại khu vực và toàn cầu.
    Những công trình trên đã giúp tác giả luận án có được cái nhìn tổng quan về tình hình của ASEAN cũng như Trung Quốc lẫn Nhật Bản, làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu quan hệ giữa ba chủ thể này.
    2.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ song phương ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Nhật Bản
    Quan hệ ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Nhật Bản trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của các học giả trong nước. Có thể liệt kê những công trình tiêu biểu sau. Quan hệ Nhật Bản – ASEAN chính sách và tài trợ ODA (1999) do Ngô Xuân Bình chủ biên, An ninh kinh tế ASEAN và vai trò của Nhật Bản” (2001) của Viện Kinh tế thế giới và Trung tâm kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Ngoại giao kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh hội nhập Đông Á: chiến lược cạnh tranh và điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc (2008) của tác giả Đỗ Thị Ánh; Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Thị Thùy Dung có công trình: Đông Nam Á và Đông Á trong học thuyết Fukuda 2008 (2008), Vũ Dương Huân với Quan hệ đối tác đối thoại ASEAN – Trung Quốc (2007), Trần Khánh với Đông Nam Á trong cạnh tranh chiến lược Trung - Nhật (thập niên đầu thế kỷ XXI) (2009). Đặc biệt, tác giả Nguyễn Thu Mỹ với nhóm công trình: Quan hệ ASEAN – Trung Quốc 15 năm nhìn lại (2006), Hợp tác Trung Quốc – ASEAN trong quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN (2010), Quan hệ ASEAN - Trung Quốc ở thời kì hậu Chiến tranh lạnh: Tiến triển và triển vọng (2010). Trong các công trình này, quan hệ song phương giữa ASEAN với hai đối tác trên được các tác giả nghiên cứu trên tất cả các bình diện từ kinh tế, văn hóa, du lịch đến chính trị; vấn đề an ninh có được đề cập nhưng chỉ là những phác thảo đơn giản. Điểm mạnh của các công trình trên là đã tái hiện khá rõ nét mối quan hệ ASEAN – Trung, ASEAN – Nhật Bản trên phương diện kinh tế, phần nào là quan hệ chính trị; phản ánh kịp thời tính thời sự của các sự kiện nhưng rõ ràng lĩnh vực an ninh khá trống vắng. Luận án tiến sử học của Ngô Hồng Điệp bảo vệ năm 2008 với đề tài Quan hệ Nhật Bản – ASEAN (1975 – 2000) đã nghiên cứu khá toàn diện mối quan hệ giữa hai chủ thể này qua hai giai đoạn trong Chiến tranh lạnh (1975-1991) và sau Chiến tranh lạnh (1991- 2000). Vấn đề chính trị, an ninh có đề cập nhưng chỉ là một mảng nhỏ trong mối quan hệ tổng thể giữa Nhật Bản với ASEAN và chỉ dừng tại thời điểm năm 2000. Công trình của tập thể tác giả do Hoàng Thị Minh Hoa chủ biên Nhật Bản với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Lào và Campuchia (2010) đã tái hiện mối quan hệ và vai trò của Nhật Bản chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế, trong đó có đề cập đến chính trị, an ninh. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn giữa Nhật Bản với khu vực Đông Dương, do đó không bao quát được quan hệ Nhật Bản – ASEAN. Đáng lưu ý là công trình Quan hệ Trung Quốc – ASEAN – Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam (2007) do Vũ Văn Hà chủ biên đã làm rõ những tác động của bối cảnh mới; trên cơ sở đó tìm hiểu quan hệ song phương và đa phương của ba thực thể ASEAN Trung Quốc – Nhật Bản. Tuy nhiên, về chính trị, an ninh, công trình này cũng mang tính khái quát, chỉ đề cập đến những sự kiện trước năm 2007, chỉ tập trung xoay quanh quan hệ an ninh tại Diễn đàn khu vực (ARF) và xung quanh vấn đề Biển Đông.
    2.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu quan hệ ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Nhật Bản trong khuôn khổ đa phương
    Nghiên cứu về quan hệ giữa ASEAN với các nước Trung Quốc và Nhật Bản trong khuôn khổ đa phương được nhiều học giả trong nước quan tâm. Đáng chú ý là các công trình của tác giả Nguyễn Thu Mỹ như: Hợp tác ASEAN+3 quá trình phát triển thành tựu và triển vọng (2008), Một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN + 3 (2008), Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế (2007) do Trần Quang Minh chủ biên, Hợp tác đa phương ASEAN + 3: vấn đề và triển vọng (2008) của Hoàng Khắc Nam Qua những công trình trên cho thấy một quan điểm tương đối thống nhất về nguyên nhân ra đời của ASEAN + 3 là do khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á 1997-1998. Trong các công trình trên, vai trò của các nước đối với tiến trình ASEAN +3 và Hợp tác Đông Á được đánh giá cụ thể, đồng thời cũng đã đề cập đến quá trình hợp tác giữa ASEAN với ba nước Đông Bắc Á cả trên lĩnh vực chính trị, an ninh. Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, thành tựu chính của hợp tác ASEAN + 3 cũng như ASEAN + 1 (với Trung Quốc, Nhật Bản) vẫn là kinh tế, chính trị. Vấn đề hợp tác an ninh cũng được các tác giả nghiên cứu, nhưng chủ yếu thiên về hợp tác an ninh phi truyền thống mà tiêu điểm là đối phó với chủ nghĩa khủng bố, hải tặc và buôn bán ma túy
    Dù không trực tiếp đề cập đến quan hệ ASEAN với Trung Quốc hay ASEAN với Nhật Bản, nhưng những công trình như Hợp tác Á – Âu và vai trò của Việt Nam (2004) do Nguyễn Duy Quý chủ biên, Quan hệ Nga – ASEAN trong những thập niên đầu thế kỉ XXI (2008) do Nguyễn Quang Thuấn chủ biên, Quan hệ Mỹ – Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực (2011) do Nguyễn Thái Yên Hương chủ biên đã phân tích vị thế địa chính trị của ASEAN cũng như sự tương tác quan hệ của các nước lớn ảnh hưởng đến khu vực. Trên cơ sở tham chiếu đó, tác giả có cái nhìn sâu hơn về quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản.
    2.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài
    Có thể khẳng định, việc nghiên cứu ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản cũng như mối quan hệ giữa ba chủ thể này đã được giới chính trị và học giả nước ngoài quan tâm sớm, cách tiếp cận đa chiều và có tính hệ thống. Việc tiếp cận nguồn tư liệu của các tác giả nước ngoài của tác giả luận án đến từ những cách thức khác nhau.
    Trước hết, trong quá trình tiếp xúc với các công trình nghiên cứu trong nước như được trình bày ở trên, tác giả đã tìm thấy những tư liệu trích dẫn từ các nguồn khác nhau bằng tiếng Anh, tiếng Trung Quốc phản ánh hay nhận định về lĩnh vực mà tác giả quan tâm. Ưu điểm của nguồn tư liệu này là đã được xử lí, nguồn gốc rõ ràng, có tính chính xác cao, trong đó có những nguồn tư liệu gốc rất có giá trị. Vì vậy, những trích dẫn này được tác giả luận án dẫn lại trong công trình nghiên cứu của mình.
    Nguồn tài liệu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã chuyển dịch sang tiếng Việt; bao gồm những công trình nghiên cứu được các nhà xuất bản phát hành hoặc là những bài viết đăng tải trên tài liệu tham khảo của Thông tấn Xã Việt Nam. Trước hết, phải kể đến tuyển tập Quan hệ ASEAN – Nhật Bản tình hình và triển vọng (1989) là tập hợp từ 10 bài viết của các học giả đến từ Nhật Bản và ASEAN trình bày tại Hội nghị Nhật Bản – ASEAN năm 1987 với chủ đề “Xu hướng toàn cầu và những vấn đề khu vực”. Theo các tác giả, trải qua 20 năm (1967 – 1987), quan hệ Nhật Bản – ASEAN đã có sự phát triển mạnh mẽ nhưng cũng xuất hiện những thách thức trong bối cảnh mới đối với cả hai phía về cả kinh tế lẫn chính trị. Các học giả đưa ra nhiều khuyến nghị về chính sách, biện pháp trên cơ sở khả năng hiện có và các tiềm năng có thể của Nhật Bản và ASEAN nhằm làm sâu sắc thêm mối quan hệ này. Bàn về quan hệ Nhật Bản – ASEAN là chủ yếu, nhưng tuyển tập này cũng có bài viết của học giả Tatsumi Okabe bình luận về chính sách của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á. Hai công trình viết về Nhật Bản khác đáng quan tâm là Chiến lược quốc gia của Nhật Bản trong thế kỉ XXI (2004) của Yasuhiro Nakasone, nguyên Thủ tướng Nhật Bản trong những năm 80 của thế kỉ XX; Ngoại giao Nhật Bản sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu (2012) của Iriye Akira, giáo sư Đại học Harvard. Điểm tương đồng của hai công trình trên là nghiên cứu khá hệ thống về tình hình của nước Nhật từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phân tích yêu cầu về một chiến lược tương thích toàn diện cả về đối nội lẫn đối ngoại mà Nhật Bản cần phải định ra trong bối cảnh mới của tình hình trong nước, quốc tế và phải tỏ rõ vai trò của Nhật Bản một cách tích cực hơn trong quan hệ với châu Á. Theo Iryie Akira, đường hướng ngoại giao của Nhật là không hướng tới trật tự khu vực châu Á trong đó Nhật Bản đóng vai trò chủ đạo mà là nhằm góp phần thúc đẩy phồn vinh, chia sẻ các giá trị nhân quyền, dân chủ, hợp tác nhằm nâng cao mức sống vật chất, tinh thần tại châu Á.
    Liên quan đến Trung Quốc có công trình Trung Quốc những chiến lược lớn (2003) do Hồ An Cương thuộc Đại học Nhân dân Bắc Kinh chủ biên. Trên cơ sở tư liệu phong phú và đa dạng, các tác giả đã phân tích một cách sâu sắc về chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, ngoại giao, quốc phòng của Trung Quốc từ đầu thế kỉ XXI cho tới năm 2020 và xa hơn. Sau hơn 30 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã trở thành một cường quốc và về phương diện quốc tế “ngày càng in nhiều dấu ấn trên những vấn đề toàn cầu”. Theo các tác giả, châu Á – Thái Bình Dương là khu vực tập trung các lợi ích chính trị, an ninh và kinh tế của Trung Quốc. Do đó, đứng vững ở đây là trọng điểm những toan tính chiến lược đối ngoại trong giai đoạn hiện nay của Trung Quốc. Để đạt được mục tiêu đó, những chiến lược trong quan hệ với Mỹ, Nhật Bản đã được đề xuất. Đối với Đông Nam Á, Trung Quốc tiếp tục coi khu vực này là lực lượng trung gian và là cái máy cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, tránh để họ ngã theo Mỹ về mặt chiến lược; đồng thời bảo vệ hòa bình và ổn định ở xung quanh Trung Quốc. Về lĩnh vực đối ngoại của Trung Quốc, công trình Ngoại giao Trung Quốc (2012) của Trương Thanh Mẫn đã cung cấp bức tranh toàn cảnh của nền ngoại giao Trung Quốc sau hơn 30 năm tiến hành cải cách mở cửa; cung cấp một cái nhìn xuyên suốt về tính nhất quán của chính sách đối ngoại nước này đối với quốc tế nói chung và khu vực nói riêng. Cùng với những thành công của cải cách mở cửa, vị thế của Trung Quốc ngày càng gia tăng và ảnh hưởng lớn đến các khu vực trên thế giới, nhất là Đông Nam Á.
    Ngoài những công trình do chính các nhà nghiên cứu là người Trung Quốc thực hiện, việc nghiên cứu Trung Quốc như một hiện tượng của cuối thể kỷ XX – đầu thế kỷ XXI có thể tìm thấy trong rất nhiều công trình của các học giả ngoại quốc như Daniel Bursteir và Arne De Keijzer với Trung Quốc con rồng lớn châu Á (2008), Fareed Zakaria với Thế giới hậu Mỹ (2009), G.M. Lokshin với Đối tác Trung Quốc – ASEAN: chìa khóa tiến tới hòa bình và thịnh vượng ở Đông Nam Á (2010). Công trình của Daniel Bursteir và Arne De Keijzer đã trích dẫn nhiều đánh giá của những chính khách, học giả uy tín như cựu Thủ tướng Malaysia Mahathir Bin Mohamad, Bộ trưởng cấp cao Singapore Lý Quang Diệu, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton hay cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Henry Kissinger về tình trạng hiện nay cũng như vai trò tương lai của Trung Quốc đối với thế giới. Theo các tác giả, có thể trong thế kỉ XXI, Trung Quốc sẽ trở thành một siêu cường chưa hề có trước đây trong lịch sử. Điểm chung của các công trình này là đưa ra những nhận xét đánh giá về sự trỗi dậy của Trung Quốc đã tác động đến khu vực theo cả hai chiều nghịch và thuận. Những cơ chế để ràng buộc người “khổng lồ” Trung Quốc trong trật tự thế giới hiện hành cũng được tìm thấy đây đó ở trong các công trình trên.Tuy nhiên, nhìn chung theo số liệu cung cấp, phần lớn các nước trong ASEAN đánh giá cao vai trò của Trung Quốc như là nhân tố tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế và là quốc gia không thể thiếu đối với môi trường an ninh ở khu vực.
    Hai công trình khác có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án nghiên cứu là Vấn đề an ninh ở khu vực Đông Nam Á (1994) của Viện Nghiên cứu bảo vệ hòa bình - an ninh Nhật Bản và Các vấn đề chính trị quốc tế ở châu Á – Thái Bình Dương (2006) của Michael Yahuda. Trong Vấn đề an ninh ở khu vực Đông Nam Á cho thấy môi trường chiến lược ở Đông Nam Á đã thay đổi một cách căn bản sau Chiến tranh lạnh. Theo các tác giả, sau khi Mỹ rút quân khỏi Philippines và Nga không đủ sức để can dự vào khu vực như Liên Xô trước đây, khoảng trống quyền lực đang tạo ra cơ hội cho Trung Quốc và Nhật Bản thực hiện ý đồ của mình. Sự hiện diện của Trung Quốc cũng như Nhật Bản ở khu vực buộc các quốc gia trong khối ASEAN phải tìm kiếm và xây dựng các thể chế hợp tác trong lĩnh vực an ninh, chính trị để thích ứng. Công trình cũng đã phác thảo chính sách của Trung Quốc và hướng phát triển của Nhật Bản tại Đông Nam Á. Điểm mạnh của công trình là nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực an ninh khu vực, chú trọng đến hợp tác song phương, đa phương trong nội bộ ASEAN. Tuy nhiên, công trình chưa đề cập quan hệ an ninh giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc và Nhật Bản cũng như thời điểm nghiên cứu chỉ giới hạn trong một thời gian ngắn sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc.
    Trong Các vấn đề chính trị quốc tế ở châu Á – Thái Bình Dương, Michael Yahuda phân tích tình hình khu vực thông qua việc mô tả hoạt cảnh của đấu trường chính trị tại châu Á – Thái Bình Dương từ sau năm 1945 đến năm 2005, trong đó có đề cập đến chính sách chính trị, an ninh của Trung Quốc và Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam Á.Tuy nhiên, là công trình đề cập đến quan hệ quốc tế trong toàn phạm vi châu Á – Thái Bình Dương, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản chưa được tác giả nghiên cứu sâu.
    Thứ hai, các công trình khai thác trực tiếp bằng tiếng Anh. Về quan hệ ASEAN – Nhật Bản có Diplomatic Bluebook 1992 Japan's Diplomatic Activities của Bộ Ngoại giao Nhật Bản; trong đó trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và khu vực đã định hướng chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh. Phần về Đông Nam Á được trong trình bày trong chương IV, trong đó nêu bật mối quan hệ giữa Nhật Bản với từng thành viên của khu vực trong những năm 1991 và 1992, cho thấy sự điều chỉnh chính sách của Nhật Bản trong bối cảnh mới cũng như vai trò của Nhật Bản tại khu vực. Xuất phát từ nhận thức, vấn đề Campuchia là yếu tố gây bất ổn lớn nhất Đông Nam Á, Nhật Bản đã tăng cường nỗ lực ngoại giao, góp phần quan trọng cho tiến trình hòa bình ở Campuchia.
    Các công trình của Tomotaka Shoji bao gồm Southeast Asia - Elections and New Governments (2005), Pursuing a Multi-dimensional Relationship: Rising China and Japan’s Southeast Asia Policy (2009), Japan’s Security Outlook: Security Challenges and the New National Defense Program Guidelines (2011), Vietnam, ASEAN, and the South China Sea: Unity or Diverseness? (2012) đã xem xét quan hệ ASEAN – Nhật Bản dưới nhiều góc độ. Trong Pursuing a Multi-Dimensional Relationship: Rising China and Japan’s Southeast Asia Policy tác giả trình bày tổng quan về quan hệ Nhật Bản với Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, theo hướng mở rộng từ hợp tác kinh tế sang hợp tác toàn diện. Nghiên cứu cũng cho thấy trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, vị thế của Nhật Bản bị suy giảm tương đối tại khu vực và phân tích việc Nhật Bản thực hiện chính sách cạnh tranh với Trung Quốc, thông qua nhiều nỗ lực để mở rộng và đa dạng hóa vai trò của mình trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có việc tăng cường quan hệ với ASEAN trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Trong Japan’s Security Outlook: Security Challenges and the New National Defense Program Guidelines tác giả tập trung phân tích các thách thức an ninh đối với Nhật Bản đặt trong bối cảnh an ninh khu vực. Tác giả dành một phần xem xét chính sách an ninh của Nhật Bản đối với Đông Nam Á và tác động của nó đối với môi trường chiến lược ở Đông Nam Á; và cho rằng việc thiết lập quan hệ an ninh, quốc phòng gần gũi hơn với Đông Nam Á, cho phép Nhật Bản mở rộng sự lựa chọn chiến lược của mình để đối phó với các thách thức từ Trung Quốc.
    Nishihara Masashi trong Japan’s Political and Security Relations with ASEAN (2003) đã xem nhân tố Đông Nam Á như một thể nghiệm thành công của việc mở rộng vai trò chính trị, an ninh của Nhật Bản tại khu vực. Hơn nữa, công trình đã đề cập quá trình hợp tác chính trị, an ninh giữa Nhật Bản với ASEAN từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2003, chủ yếu đi sâu vào lĩnh vực an ninh phi truyền thống, đồng thời, nêu lên những nhân tố thách thách thức trong quan hệ của hai thực thể này như sự đa dạng của ASEAN, hiệu quả của ngoại giao phòng ngừa; Nishihara Masashi cho rằng Trung Quốc là một nhân tố cản trở lớn.
    Công trình Southeast Asian Receptiveness to Japanese Maritime Security Cooperation (2007) của Yoichiro Sato đã nghiên cứu quan hệ Nhật Bản với ASEAN dưới góc độ an ninh hàng hải. Nghiên cứu này cho thấy vai trò của Nhật Bản trong việc đảm bảo an ninh hàng hải ở Đông Nam Á đã gây được sự chú ý trong những năm gần đây, trong đó tập trung chủ yếu trên eo biển Malacca thông qua hợp tác chặt chẽ với ba quốc gia Singapore, Malaysia và Indonesia. Yoichiro Sato cũng cho rằng, Nhật Bản mong muốn đạt được sự hợp tác đa phương bao gồm sự hiện diện các quốc gia trong khu vực Đông Á, nhưng theo tác giả, những khác biệt về lợi ích cũng như trong việc thiết lập thể chế giữa Nhật Bản với các nước Đông Nam Á đã gây ra một số trở ngại đối với tiến trình hợp tác này.
    Liên quan đến quan hệ ASEAN – Trung Quốc, Alice D. Ba trong China and ASEAN Navigating Relations for a 21s t Century Asia (2003) nghiên cứu các giai đoạn phát triển quan hệ Trung Quốc – ASEAN và nêu lên những diễn biến chính cũng như đưa ra những nhận xét cụ thể ở mỗi giai đoạn, đồng thời dự báo về triển vọng của mối quan hệ này trong thế kỉ XXI.
    China ASEAN Relations: Perspectives, Prospects and Implications for U.S. Interests (2006) của Jing-dong Yuan nghiên cứu sự phát triển mối quan hệ Trung Quốc – ASEAN trong 15 năm từ khi thiết lập quan hệ năm 1991 đến năm 2006, phân tích những biểu hiện cụ thể của từng giai đoạn trên các lĩnh vực hợp tác kinh tế, chính trị, an ninh; làm rõ những nỗ lực của Trung Quốc và ASEAN trong việc quản lý các tranh chấp chưa được giải quyết như tranh chấp lãnh thổ. Theo tác giả của công trình, với sự gia tăng hợp tác kinh tế và những lợi ích chung về một khu vực ổn định đã góp phần vào sự phát triển tích cực đối với quan hệ song phương giữa hai chủ thể này. Thông qua việc nghiên cứu quan hệ Trung Quốc – ASEAN, Jing-dong Yuan cũng đưa ra những hàm ý đối với chính sách của Mỹ ở khu vực này.
    Trong Anti-Terrorism, Maritime Security, and ASEAN China Cooperation: A Chinese Perspective (2005), Guo Xinning tập trung nghiên cứu tính tương đồng trong nhận thức của ASEAN và Trung Quốc cũng như quá trình hợp tác giữa hai bên để đối phó với vấn đề chống khủng bố và an ninh hàng hải. Bên cạnh những thành tựu, Guo Xinning cũng chỉ ra bốn trở ngại trong quan hệ ASEAN – Trung Quốc. Thứ nhất, sự gia tăng sức mạnh của Trung Quốc gây lo ngại cho các nước ASEAN; thứ hai, tranh chấp và giải quyết vấn đề Biển Đông; thứ ba, thái độ của các nước ASEAN khác nhau trong việc hợp tác với Trung Quốc; và cuối cùng, quan hệ ASEAN – Trung Quốc chịu tác động bởi sự cạnh tranh của Mỹ và Nhật Bản.
    Về vấn đề Biển Đông trong quan hệ ASEAN – Trung Quốc cũng nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu ngoài nước. Trước hết là công trình Chinese Debates of South China Sea Policy: Implications for Future Developments (2012) của Mingjiang Li – một học giả người Trung Quốc. Công trình này đã cung cấp cái nhìn tổng quan, đa chiều về những tranh luận ở Trung Quốc liên quan đến Biển Đông; trong đó làm rõ các quan điểm tư tưởng khác nhau về tranh chấp ở Biển Đông, về những dạng chính sách tiếp cận giải quyết, về những vấn đề đồng thuận và gây bất đồng trong dư luận xã hội Trung Quốc. Tác giả đã dẫn lại quan điểm chính thống từ Nhân dân Nhật báo về ba nhân tố làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông trong những năm gần đây. Đó là việc các quốc gia lân cận ngày càng chú ý khai thác nguồn lợi kinh tế, đặc biệt là tài nguyên năng lượng ở Biển Đông, là sự dịch chuyển chiến lược sang Đông Á của Mỹ và sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc đã khiến cho các quốc gia láng giềng tìm cách lôi kéo Mỹ nhằm cân bằng quyền lực tại khu vực. Những nhân tố làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông cũng được nghiên cứu trong The South China Sea: Oil, Maritime Claims, and U.S - China Strategic Rivalry (2012) của Leszek Buszynski. Leszek Buszynski coi vấn đề dầu mỏ, lợi ích hàng hải là hai nhân tố chủ chốt trong chiến lược cạnh tranh của Trung Quốc và Mỹ tại Biển Đông. Theo tác giả, trong bối cảnh Mỹ xoay trục về Đông Nam Á thì hành động cứng rắn của Trung Quốc tại Biển Đông đã đẩy các thành viên ASEAN có tranh chấp tăng cường chạy đua vũ trang và đứng về phía Mỹ.
    Nghiên cứu mối quan hệ ASEAN – Trung Quốc và ASEAN – Nhật Bản có công trình China – ASEAN and Japan – ASEAN Relations during the Post-Cold War Era (2005) của Lai Foon Wong. Công trình này đã phân tích sự tiến triến của mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc và ASEAN với Nhật Bản từ 1990 đến 2005 trên cơ sở đối sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh. Theo nghiên cứu trên, mối quan hệ Trung Quốc – ASEAN trải qua biến đổi lớn trong năm 1997 và phát triển nhanh chóng trong các năm tiếp theo và đã bắt kịp quan hệ Nhật Bản – ASEAN. Giải thích hiện tượng này, Lai Foon Wong cho rằng sự thống nhất về chính sách hội nhập khu vực của ASEAN và Trung Quốc và những mâu thuẫn của chính sách hội nhập khu vực của ASEAN và Nhật Bản là yếu tố quan trọng trong tốc độ tương phản của sự phát triển quan hệ song phương của họ.
    Qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản ở cả trong và ngoài nước có thể rút ra một số nhận xét sau:
    Thứ nhất, ở trong nước, số lượng công trình nghiên cứu về sự phát triển kinh tế- xã hội, chính sách và quan hệ đối ngoại của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản cũng như quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc và với Nhật Bản rất phong phú về nội dung và đa dạng trong cách tiếp cận. Điều dễ dàng nhận thấy là nghiên cứu của các tác giả trong nước chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực hợp tác cụ thể như kinh tế, khoa học kĩ thuật, giáo dục đào tạo. Quan hệ trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh giữa ba đối tác này chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống. Đối với vấn đề an ninh, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào lĩnh vực an ninh phi truyền thống.
    Thứ hai, những công trình nghiên cứu ở nước ngoài nhìn chung đi sâu phân tích về mối quan hệ ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, trong đó có lĩnh vực chính trị - ngoại giao và an ninh. Trong khả năng tiếp cận của mình, tác giả nhận thấy vẫn chưa có một công trình nào phản ánh đầy đủ và có hệ thống về vấn đề mà luận án nghiên cứu.
    Thứ ba, trong các nghiên cứu về quan hệ ASEAN với Trung Quốc và với Nhật Bản cả ở trong nước lẫn ngoài nước còn thiếu sự đánh giá có tính hệ thống về quan hệ giữa các chủ thể này cũng như tác động của nó đối với mỗi bên và khu vực. Những chuyển dịch quan hệ quốc tế tại khu vực nảy sinh từ quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản cũng chưa được nghiên cứu một cách thỏa đáng.
    Trên cơ sở kế thừa và chọn lọc, đây là nguồn tư liệu hết sức quí giá đốí với tác giả luận án, đặt cơ sở cho việc tái dựng mối quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh cùng với những nhận xét, đánh giá mà tác giả rút ra trong quá trình nghiên cứu.
    3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
    3.1. Mục tiêu nghiên cứu
    Làm rõ tiến trình và những nội dung trong quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và với Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh, phân tích làm rõ những nhân tố tác động, bản chất của các mối quan hệ trên, so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa cặp quan hệ ASEAN –Trung Quốc với ASEAN – Nhật Bản cũng như đánh giá tác động của các mối quan hệ trên đối với từng bên và đối với tình hình chính trị, an ninh khu vực.
    3.2. Nhiệm vụ
    Để đạt được mục tiêu trên, trên cơ sở những tư liệu lịch sử và tài liệu nghiên cứu tiếp cận được, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
    - Nghiên cứu một cách có hệ thống tiến trình quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản từ năm 1991 đến năm 2010;
    - Tìm hiểu những cơ chế, nguyên nhân thúc đẩy cũng như hạn chế về quan hệ của ba chủ thể trên sau Chiến tranh lạnh;
    - Rút ra một số nhận xét, đánh giá về quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản giai đoạn 1991 – 2010, cũng như đánh giá tác động của nó đến mỗi bên và đến tình hình chính trị, an ninh khu vực.
    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
    4.1. Đối tượng nghiên cứu
    Luận án tập trung nghiên cứu mối quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và với Nhật Bản cả trong cơ chế song phương lẫn đa phương trong giai đoạn khoảng 20 năm từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc.
    4.2. Phạm vi nghiên cứu
    Về không gian, luận án nghiên cứu ba chủ thể là ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản.
    Về thời gian, luận án giới hạn nghiên cứu về quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản trong khoảng thời gian 20 năm, từ năm 1991 đến năm 2010. Sở dĩ lựa chọn năm 1991 làm mốc khởi đầu cho việc nghiên cứu, bởi đây là mốc kết thúc Chiến tranh lạnh, có ảnh hưởng sâu rộng đến quan hệ quốc tế cũng như khu vực Đông Á; và cũng là năm ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc; còn năm 2010 là năm ASEAN đang bước sang giai đoạn mới trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và năm 2010 được coi là năm bản lề của việc triển khai lộ trình đó.
    Về mặt nội dung, luận án tập trung nghiên cứu quan hệ của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh. Tuy nhiên, để làm rõ mối quan hệ này, tác giả cũng có đề cập đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa như những dẫn chứng có tính chất minh họa.
    5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
    5.1. Nguồn tư liệu
    Để hoàn thành luận án, tác giả đã tham khảo và sử dụng các nguồn tư liệu sau:
    - Các văn kiện chính thức của ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản về chính sách đối ngoại nói chung và đối với các đối tác trên nói riêng, các bài phát biểu của lãnh đạo cấp cao Việt Nam.
    - Kế thừa kết quả nghiên cứu bao gồm các công trình chuyên khảo, các bài báo của các nhà nghiên cứu, bình luận trong và ngoài nước đã đề cập sâu các vấn đề mà luận án quan tâm.
    - Nguồn tài liệu khai thác từ trang web chính thức của Ban thư kí ASEAN bao gồm các văn kiện, tuyên bố của Hội nghị cấp cao, các hội nghị cấp Bộ trưởng ASEAN, các văn kiện ký kết với các đối tác bên ngoài.
    5.2. Phương pháp nghiên cứu
    Về phương pháp luận: tác giả luận án quán triệt sâu sắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về lịch sử và các vấn đề quốc tế.
    Về phương pháp nghiên cứu: Luận án được hoàn thành với việc áp dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Với phương pháp lịch sử, đề tài xem xét và trình bày quá trình phát triển quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản theo một trình tự liên tục về mặt thời gian và nhiều mặt, trong mối liên hệ với các sự kiện trong bối cảnh quốc tế, khu vực và trong mỗi nước; làm rõ điều kiện, đặc điểm phát triển và biểu hiện của mối quan hệ. Với phương pháp logic, quan hệ của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản được xem xét, nghiên cứu dưới dạng tổng quát, nhằm tìm ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của các sự kiện trong các mối quan hệ trên.
    Đồng thời, để làm sáng rõ yêu cầu đặt ra những phương pháp khác như phương pháp nghiên cứu quốc tế, phương pháp dự báo khoa học đã được vận dụng.
    6. Đóng góp của luận án
    Từ việc kế thừa những kết quả của các công trình trong và ngoài nước, qua phân tích, luận giải vấn đề một cách độc lập, luận án có những đóng góp sau đây:
    6.1. Về mặt khoa học
    - Đưa ra những đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện về sự tiến triển của quan hệ của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản trong lĩnh vực chính trị-ngoại giao và an ninh từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2010, trên cơ sở đó so sánh những tương đồng và khác biệt của cặp quan hệ ASEAN – Trung Quốc và ASEAN – Nhật Bản, rút ra những đặc điểm, tác động của nó đối với an ninh và sự phát triển của khu vực, nhất là với ASEAN và các quốc gia thành viên.
    - Từ việc nghiên cứu quan hệ của ASEAN với hai nước lớn ở Đông Á là Trung Quốc và Nhật Bản, luận án không chỉ nhận biết xu hướng tiến triển, nhất là về thành tựu, thách thức và những vấn đề đặt ra mà còn góp phần nâng cao hiểu biết về những toan tính của Trung Quốc và Nhật Bản đối với các vấn đề an ninh, chính trị tại khu vực Đông Nam Á.
    6.2. Về mặt thực tiễn
    - Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần trong việc xây dựng các luận cứ để các nhà hoạch định chính sách Việt Nam nói riêng và ASEAN nói chung có thể cân nhắc khi quyết định nhằm bảo vệ và mở rộng lợi ích trong quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có quan hệ với Trung Quốc và Nhật Bản.
    - Luận án cung cấp một danh mục tương đối đầy đủ những tư liệu lịch sử và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; đồng thời bản thân luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về lịch sử thế giới, quốc tế học, nhất là về các vấn đề liên quan đến ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản.
    7. Bố cục của luận án
    Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm những chương sau:
    Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991 – 2010)
    Chương 2: Sự tiến triển trong quan hệ của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991 – 2010)
    Chương 3: Một số nhận xét về quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991 – 2010)

    Xem Thêm: Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991 - 2010)
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991 - 2010) sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu
Tài liệu mới

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status