Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Kết quả 1 đến 1 của 1

    LUẬN VĂN Sự độc lập của ngân hàng trung ương tác động đến việc thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu

    Nhu Ely Nhu Ely Đang Ngoại tuyến (1771 tài liệu)
    .:: Bronze Member ::.
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Sự độc lập của ngân hàng trung ương tác động đến việc thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu

    LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
    NĂM 2011


    Mục Lục
    Tóm tắt . 4
    1. Giới thiệu: 6
    2. Ảnh hưởng của lạm phát mục tiêu và vai trò của CBI: 6
    2.1 Dữ liệu . 11
    2.2 Tóm tắt thống kê: . 11
    3. Kết quả: 13
    3.1 Chi tiết về lạm phát trong nền kinh tế đang nổi lên: 22
    3.2 Kiểm tra mức độ chắc chắn: . 23
    4. Các kênh (Channel) . 25
    4.1 Các kênh tiềm năng khác: . 28
    5. Kết luận: . 30
    Tài liệu tham khảo . 31
    Bảng 1: 31
    Bảng 2: 36
    Bảng 3: 37
    Bảng 4: 38
    Bảng 5: 39
    Bảng 6: 40
    Bảng 7: 41
    Bảng 8: 42
    Bảng 9: 43
    Bảng 10: 44
    Bảng 11: 45
    Bảng A1: . 46
    Bảng A2: . 47

    1. Giới thiệu:
    Ngày càng nhiều quốc gia quyết định chọn lạm phát mục tiêu (IT) như là chiến lược
    chính sách tiền tệ. Xu hướng này bắt đầu vào đầu những năm 90 với một số ít các nền
    kinh tế phát triển. Khoảng đầu những năm 1990, một số quốc gia công nghiệp nữa cũng
    theo, cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, ngân hàng trung ương trong
    những nền kinh tế mới nổi bắt đầu áp dụng lạm phát mục tiêu (IT). Hiện tại có 8 nước
    thuộc nền kinh tế phát triển và 13 nước thuộc nền kinh tế mới nổi đang áp dụng chính
    sách tiền tệ này. Ngân hàng trung ương - ngân hàng thực hiện khuôn khổ chính sách
    tiền tệ mới này - đã làm vì nhận thức được lợi ích. Lợi ích đó bao gồm việc đạt được
    lạm phát thấp hơn và sự biến đổi lạm phát, trong khi vẫn giữ đủ tính linh hoạt để phản
    ứng với những cú sốc kinh tế vĩ mô và khả năng ổn định sản lượng đầu ra. Những quốc
    gia có thị trường mới nổi đang tìm kiếm cái neo danh nghĩa mà không có sự bất ổn liên
    quan với chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
    Vì số lượng các nước đã áp dụng lạm phát mục tiêu đang có xu hướng tăng lên, có tài
    liệu để xác định thực nghiệm ảnh hưởng lạm phát mục tiêu đến lạm phát trung bình (
    INFL), biến động lạm phát (sdINFL), tăng trưởng trung bình (GROWTH), và biến động
    tăng trưởng (sd GROWTH) . Nghiên cứu ban đầu tập trung vào các nước công nghiệp
    (c.f. Ball and Sheridan, 2005) và nhìn chung, chỉ tìm thấy bằng chứng yếu ớt mà lạm
    phát mục tiêu cải thiện hiệu suất kinh tế vĩ mô. Nhiều nghiên cứu gần đây bao gồm các
    nền kinh tế mới nổi và xu hướng tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ hơn về tác động tác
    động tích cực (Batini and Laxton, 2007; Gonçalves and Salles, 2008; Lin and Ye, 2009;
    Mishkin and Schmidt - Hebbel, 2007). Tuy nhiên, Brito and Bystedt (2010), sử dụng hệ
    thống ước lượng như đối xứng với sử dụng ước lượng khác biệt trong khác biệt thông
    thường, Ball and Sheridan (2005) đạt được kết quả khác, họ tìm thấy sự hỗ trợ yếu hơn
    về ảnh hưởng của lạm phát mục tiêu lên lạm phát trung bình, biến đổi lạm phát, và biến
    đổi tăng trưởng và cung cấp bằng chứng mà tăng trưởng trung bình thấp hơn lạm phát
    mục tiêu. Khảo sát lý thuyết, Ball (2010) nói rằng bằng chứng về tác dụng có lợi của
    lạm phát mục tiêu trong các nền kinh tế mới, trong khi mạnh mẽ hơn trong các nước
    phát triển, không phải kết luận.
    Trong bài này, chúng tôi cố gắng giải thích việc thiếu bằng chứng mạnh bằng cách lập
    luận rằng tất cả các nền kinh tế mới nổi không giống nhau và rằng lạm phát mục tiêu
    (IT) có thể hiệu quả hơn trong 1 vài nước khác. Đặc biệt, ngân hàng trung ương khác
    nhau về mức độ độc lập và điều này có thể tương tác với chế độ lạm phát mục tiêu tạo
    ra kết quả khác nhau về kinh tế vĩ mô. Có thể vậy do đó, khi sự phân biệt này không
    được thực hiện, kết quả kết luận về tác dụng của lạm phát mục tiêu trong một tập con
    của những nước bị suy yếu bởi các nước có lạm phát mục tiêu không có hiệu lực.
    Có quan điểm đối nghịch rằng liệu sự độc lập của ngân hàng trung ương (CBI) làm cho
    chế độ lạm phát mục tiêu hiệu quả nhiều hơn hoặc ít hơn. Một mặt, ngân hàng trung
    ương tự chủ có thể là điều kiện tiên quyết cho lạm phát mục tiêu thành công (Mishkin,
    2000; 2004; Eichengreen et al., 1999; Friedman and Ötker-Robe, 2010). Ví dụ như, lạm
    phát mục tiêu có thể không hiệu quả để làm cho lạm phát thấp nếu ngân hàng trung
    ương có thể bị áp lực về mặt chính trị để hạ tỉ lệ thất nghiệp hay tạo thêm tiền để giảm
    thâm hụt tài chính. Tương tự như vậy, độc lập của ngân hàng trung ương thấp có thể
    hàm ý rằng những điều kiện đầu mất đi là tốt. Điều này bao gồm ưu tiên về mục tiêu
    lạm phát như mục tiêu của chính sách tiền tệ, hạn chế sự thống trị về tài khóa, hạn chế
    đô la hoá, và thông tin ngân hàng trung ương hiệu quả, minh bạch và có trách nhiệm
    (Batini and Laxton, 2007; Friedman and Ötker-Robe, 2010)[1]. Trong trường hợp này,
    lạm phát mục tiêu (IT) sẽ có hiệu quả thấp trong môi trường ngân hàng trung ương độc
    lập thấp (CBI). Chúng tôi gọi đây là “Hiệu ứng điều kiện tiên quyết”. Tuy nhiên, một số
    quan điểm cho rằng trong thực tế đó có phải là điều kiện tiên quyết cho thành công của
    IT hay không? Chắc chắn hầu hết sẽ đồng ý rằng những yếu tố này làm cho bất kỳ chế
    độ tiền tệ nào thành công hơn.
    [1] Chúng tôi thảo luận các điều kiện tiên quyết khác sau đó – mà Sự độc lập của ngân
    hàng trung ương (CBI) có thể được tương quan, nhưng ít có khả năng để có một ảnh
    hưởng trên quan hệ nhân quả.
    Hơn nữa, còn có 1 số tranh luận cho rằng lạm phát mục tiêu có thể thúc đẩy sự phát
    triển của một số tính năng này. (Batini and Laxton, 2007; Friedman and Ötker-Robe,
    2009; Mishkin, 1999). Do đó, lạm phát mục tiêu (IT) có thể thành công hơn so với các
    chinh sách tiền tệ khác khi những yếu tố này đang thiếu và có nhiều cách để cải thiện.
    Trong phạm vi những yếu tố này đang thiếu ở nước có CBI thấp, chúng ta có thể mong
    đợi hiệu ứng lớn hơn của lạm phát mục tiêu tại nước có CBI thấp. Chúng tôi gọi đây là
    "hiệu ứng nâng cao" CBI. Ngược lại, khi đã có các tính năng này thì có ít tác động
    để lạm phát mục tiêu có thể nâng cao.
    Một ví dụ khác của hiệu ứng này, CBI thấp có thể bao hàm sự tín nhiệm ngân
    hàng trung ương yếu kém và không giữ được lạm phát kỳ vọng, cho thấy rằng lạm phát
    mục tiêu có thể có một tác động lớn trong khi đó nếu một ngân hàng trung ương có uy
    tín (Bernanke et al, 1999; Mishkin, 1999; Svensson năm 1997), không cần độ tin
    cậy và neo đậu của những kỳ vọng lạm phát mà đi kèm lạm phát mục tiêu (Ball, 2010,
    Goncalves và Salles, 2008). Một lần nữa, chúng tôi mong đợi xem hiệu
    ứng mạnh mẽ của lạm phát mục tiêu ở các nước không có ngân hàng trung ương độc
    lập.
    Hiệu quả của CBI thấp do hiệu quả của lạm phát mục tiêu thì phụ thuộc vào sức mạnh
    tương đối và những tác động khác, cải thiện bằng cách phân tích thực
    nghiệm tác dụng của CBI về việc thực hiện chế độ, chúng tôi hy vọng làm sáng tỏ cuộc
    tranh luận này. Theo kết quả, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng về tác dụng có
    lợi của lạm phát mục tiêu ở các nước tiên tiến hoặc các quốc gia đang nổi lên với CBI
    cao. Tuy nhiên, chúng tôi phát hiện các lợi ích lớn ở các nước đang phát
    triển với mức độ CBI thấp. Những kết quả nghi ngờ về quan điểm cho rằng CBI là
    một điều kiện cần thiết cho lạm phát mục tiêu có hiệu quả. Hoàn toàn trái ngược, lạm
    phát mục tiêu chỉ có hiệu quả khi các ngân hàng trung ương không phải là độc lập, cho
    thấy tác dụng cải thiện là quan trọng hơn hiệu ứng điều kiện tiên quyết. Do đó, hàm
    ý của chính sách là các nền kinh tế mới nổi không nên chờ đợi cho CBI lớn
    hơn trước khi áp dụng lạm phát mục tiêu như là một chiến lược chính sách tiền tệ.
    Sau đó, chúng tôi điều tra các kênh có CBI thấp tại các nền kinh tế mới nổi và qua đó
    hiệu quả của lạm phát mục tiêu tăng trong việc giảm lạm phát. Đặc biệt, chúng ta xem
    xét một vài khía cạnh cùng các nước có CBI thấp có nhiều cải tiến so với các nước có
    CBI cao sau khi áp dụng lạm phát mục tiêu. Ví dụ, thông qua lạm phát mục tiêu
    có thể mang lại một hiệu quả lớn hơn trên thực tế hoặc tăng CBI cho các quốc
    gia CBI thấp như các chính trị gia được giao trong cam kết của họ để làm cho lạm phát
    thấp (Mishkin, 1999; Batini vàLaxton, 2007). Liên quan đến điều này, và có lẽ quan
    trọng hơn, lạm phát mục tiêu có thể mang về kỷ luật tài chính lớn hơn và giảm thâm
    hụt ngân sách quốc gia có CBI thấp, kể từ khi tiếp tục tài trợ thâm hụt ngân sách thông
    qua việc tài trợ tiền sẽ gây nguy hiểm cho việc đạt được các lạm phát mục tiêu
    (IMF, 2006). Lạm phát mục tiêu cũng có thể dẫn đến giảm đô la hóa, tăng cường hiệu
    lực của chính sách tiền tệ và khả năng làm cho lạm phát thấp hơn (Mishkin, 2003).
    Lạm phát mục tiêu cũng được kết hợp với những cải tiến nhanh chóng trong cơ
    cấu thông qua các ngân hàng trung ương (Batini và Laxton, 2007) và thông tin liên
    lạc tăng lên, minh bạch và trách nhiệm giải trình (Mishkin và Schmidt -Hebbel, 2001).
    Mặc dù, chúng ta có thể không xác định riêng tất cả các kênh do hạn chế dữ liệu, chúng
    tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy sự suy giảm trong thâm hụt ngân sách như là một
    kênh quan trọng. Đặc biệt, có một sự giảm đáng kể thâm hụt ngân sách ở các nước CIB
    thấp sau khi áp dụng lạm phát mục tiêu, nhiều hơn so với các nước có CBI cao
    và khi chúng tôi kiểm soát thâm hụt ngân sách trong hồi quy chuẩn, chúng
    tôi không còn thấy rằng lạm phát mục tiêu có hiệu quả ở nước có CBI thấp.
    Ngược lại, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng rằng đô la hóa và phát triển tài
    chính được coi là kênh quan trọng mà qua đó CBI thấp cải thiện biểu hiện của lạm
    phát. Phần còn lại của bài được tổ chức như sau:
     Phần 2: Giới thiệu các dữ liệu và phương trình hồi quy chuẩn để kiểm tra hiệu quả
    của lạm phát mục tiêu vào kinh tế vĩ mô, hiệu suất và vai trò của CBI.
     Phần 3: Trình bày các kết quả và “robustest” kiểm tra.
     Phần 4: Phân tích các “channel” tiềm ẩn mà theo đó lạm phát mục tiêu tác động
    đến biểu hiện của lạm phát
     Phần 5: Kết luận

    Xem Thêm: Sự độc lập của ngân hàng trung ương tác động đến việc thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu
    Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Sự độc lập của ngân hàng trung ương tác động đến việc thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu sẽ giúp ích cho bạn.
    #1
  7. Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

social Thư Viện Tài Liệu

Từ khóa được tìm kiếm

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
DMCA.com Protection Status