TÊN ĐỀ TÀI: Thực trạng của cơ cấu đầu tư và tác động của nó với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở VN

CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ


I.1. Khái niệm
Trước khi đi đến khái niệm cơ cấu đầu tư , cơ cấu kinh tế, cần làm rõ nội dung của thuật ngữ ”cơ cấu”. Cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng nào đó, kể cả số lượng và chất lượng, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng đó, trong một thời gian nhất định.
Cơ cấu của một đối tượng được thể hiện bằng hai đặc trưng chính. Đó là các bộ phận cấu thành nên đối tượng và mối quan hệ giũa các bộ phận cấu thành đó.
Cơ cấu của một đối tượng quyết định tính chất hay năng lực của nó nhằm thực hiện một chức năng hay mục tiêu nào đó mà đối tượng cần đạt đến. Với cơ cấu xác định, thì đối tượng có những tính chất nhất định hay có một năng lực và hạn chế nhất định. Hay nói một cách khác, cấu trúc của đối tượng xác định tính chất và năng lực của nó. Để khắc phục những khuyết tật do cơ cấu hay tạo ra một năng lực mới và tính chất mới của đối tượng bắt buộc phải thay đổi cấu trúc của nó.
Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về vốn, nguồn vốn, cơ cấu huy động và sử dụng vốn . .quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại giữa các bộ phận trong không gian và thời gian, vận động theo hướng hình thành một cơ cấu đầu tư hợp lý và tạo ra những tiềm lực lớn hơn về mọi mặt kinh tế-xã hội.
Định nghĩa trên đã nêu được những nội dung cơ bản của cơ cấu đầu tư .
I.2. Phân loại cơ cấu đầu tư
Có thể có nhiều cách phân loại cơ cấu đầu tư khác nhau khi nghiên cứu về đầu tư . Song dưới đây chỉ trình bày một số cơ cấu chính thường hay sử dụng.
I.2.1. Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn.
Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn hay cơ cấu nguồn vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỷ lệ của từng loại nguồn vốn trong tổng vốn đầu tư xã hội hay nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp . Cùng với sự gia tăng của vốn đầu tư xã hội, cơ cấu nguồn vốn ngày càng đa dạng hơn, phù hợp với cơ chế xóa bỏ bao cấp trong đầu tư , phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và chính sách huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Nguồn vốn trong nước bao gồm:
-- Nguồn vốn Nhà nước
+ Nguồn vốn ngân sách nhà nước
+ Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
+ Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước
-- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
+ Phần tiết kiệm của dân cư
+ Phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh
-- Thị trường vốn

Nguồn vốn nước ngoài bao gồm:
-- Tài trợ phát triển chính thức (ODF)
+ Viện trợ phát triển chính thức (ODA)
+ Các hình thức tài trợ phát triển khác
-- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
-- Đầu tư trực tiếp nước ngoài
-- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế

Trong đó nguồn chi của Nhà nước cho đầu tư có một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của Chính phủ.
Các doanh nghiệp nhà nước- thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế- vẫn nắm giữ một khối lượng vốn rất lớn. Thực hiện chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả hoạt đọng của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích lũy của doanh nghiệp nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
Nhìn tổng quan thì nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ. Nó bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo đánh giá, khu vực kinh tế ngoài nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt . do nguồn thu nhập gia tăng, do thói quen tích lũy
Thị trường vốn là kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư . Nó như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của của từng hộ nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp , các tổ chức tài chính chính phủ trung ương và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế. Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường.

Ngoài nguồn vốn trong nước, còn tồn tại nguồn vốn nước ngoài, được hiểu là dòng lưu chuyển vốn quốc tế. Dòng vốn này diễn ra dưới nhiều hình thức, mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện khác nhau.
Tài trợ phát triển chính thức (chủ yếu là ODA) bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang phát triển, với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển.
Khác với nguồn vốn ODA, nguồn vốn tín dụng không có nhiều điều kiện ưu đãi nhưng nó lại có ưu điểm rõ ràng là không gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với các nước đang phát triển mà còn đối với các nước công nghiệp phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Nguồn vốn FDI đã đóng góp phần bổ sung vốn quan trong cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực về mọi mặt. Nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước tiếp nhận đầu tư .
Thị trường vốn quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu.
Trên phạm vi một quốc gia, một cơ cấu nguồn vốn hợp lý là cơ cấu phản ánh khả năng huy động tối đa mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, phản ánh khả năng sử dụng hiệu quả cao mọi nguồn vốn đầu tư , là cơ cấu thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước., tăng tỷ trọng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và nguồn vốn của dân cư.
I.2.2. Cơ cấu vốn đầu tư
Cơ cấu vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa từng loại vốn trong tổng vốn đầu tư xã hội, vốn đầu tư của doanh nghiệp hay của một dự án.
Trên thực tế có một số cơ cấu đầu tư quan trọng cần được chú ý xem xét như cơ cấu vốn xây lắp và vốn máy móc thiết bị trong tổng vốn đầu tư , cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học công nghệ và môi trường, vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực , những chi phí tạo ra rài sản lưu động và những chi phí khác như chi phí giành cho quảng cáo, tiếp thị. . Cơ cấu vốn đầu tư theo quá trình lập và thực hiện dự án như chi phí chuẩn bị đầu tư , chi phí chuẩn bị thực hiện đầu tư , chi phí thực hiện đầu tư
I.2.3. Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành
Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư cho từng ngành kinh tế quốc dân cũng như trong từng tiểu ngành. Cơ cấu đầu tư theo ngành thể hiện việc thực hiện chính sách ưu tiên phát triển, chính sách đầu tư đối với từng ngành trong một thời kỳ nhất định.
Trong bối cảnh điều kiện kinh tế quốc tế hiện đại thì trong quá trình công nghiệp hóa của các nước đang phát triển, muốn đạt tăng trưởng cao và cơ cấu kinh tế tiến bộ, phù hợp thì phải phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.
Tuy nhiên, ở các nước phát triển có sự hạn chế của các nhân tố phát triển như: vốn, lao động, kỹ thuật, khoa học công nghệ, thị trường .Thực tế đó không cho phép phát triển cân đối, mà ưu tiên đầu tư phát triển các ngành, những lĩnh vực có tác dụng như “đầu tàu” lôi kéo toàn bộ nền kinh tế phát triển. Trong những thời điểm nhất định, các lĩnh vực phải được chọn lọc để tập trung nguồn lực còn khan hiếm của quốc gia cho việc sử dụng có hiệu quả . Trong hiện tại và trong tương lai các ngành này có tác động thúc đẩy các ngành khác tạo đà cho tăng trưởng chung, tạo sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực.
I.2.4. Cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương
vùng lãnh thổ
Cơ cấu đầu tư theo địa phương vùng lãnh thổ là cơ cấu đầu tư vốn theo không gian. Nó phản ánh tình hình sử dụng nguồn lực địa phương và việc phát huy lợi thế cạnh tranh của từng vùng.
Khi đầu tư phát triển vùng cần chú ý xem xét các đặc điểm xã hội, các điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên nhằm mục đích đảm bảo sự chuyển dịch đồng bộ, cân đối giữa các vùng đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng.
Tuy nhiên việc xây dựng một số vùng kinh tế trọng điểm là cần thiết nhằm tạo thế và lực trong phát triển nền kinh tế nói chung. Bên cạnh việc xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm trong cơ cấu đầu tư cần coi trọng các quy hoạch phát triển vùng và địa phương trong cả nước. Đó là một trong các yếu tố đảm bảo sự phát triển toàn diện giữa các vùng miền, đảm bảo hình thành một cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả.
I.3. Đặc điểm của cơ cấu đầu tư
I.3.1. Cơ cấu đầu tư mang tính khách quan.
Trong nền kinh tế, cơ cấu đầu tư được thực hiện theo các chiến lược kế hoạch đã được hoạch định trước. Nhưng không vì thế mà cơ cấu đầu tư mất đi tính khách quan của nó. Mọi sự vật hiện tượng đều hoạt động theo các quy luật khách quan. Và trong quá trình sản xuất, cơ cấu đầu tư không ngừng vận động, không ngừng phát triển theo những quy luật khách quan. Quá trình hình thành và biến đổi cơ cấu đầu tư ở các nước đều tuân theo nhưng quy luật chung. Một cơ cấu đầu tư hợp lý phải phản ánh được sự tác động của các quy luật phát triển khách quan.
Vai trò của yếu tố chủ quan là: thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc những quy luật đó mà người ta phân tích đánh giá dự báo những xu thế phát triển khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, để tìm ra những phương án điều chỉnh cơ cấu có hiệu lực cao nhất trong những điều kiện cụ thể của đất nước. Mọi ý định chủ quan nóng vội hay bảo thủ trong việc tạo ra sự thay đổi cơ cấu cần thiết, thường dẫn đến những tai họa không nhỏ cho sự phát triển của đất nước.


Xem Thêm: Thực trạng của cơ cấu đầu tư và tác động của nó với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Thực trạng của cơ cấu đầu tư và tác động của nó với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam sẽ giúp ích cho bạn.