TÊN ĐỀ TÀI:Sự cần thiết khách quan thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)

VIỆT NAM
Việt Nam sau một thời gian chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường - định hướng CNXH - có sự điều tiết của Nhà nước, đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn và ý nghĩa trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nhịp độ tăng trưởng bình quân hằng năm về kinh tế của nước ta được đánh giá là đạt mức khá cao so với nhịp độ tăng trưởng bình quân của thế giới (tốc độ đó là xấp xỉ 9% trong giai đoạn 1990 - 1999 và năm 1995 đạt mức cao nhất là 9,5%). Do vậy, đến nay mới chỉ sau hơn 10 năm đổi mới, bộ mặt nền kinh tế xã hội của Việt Nam đã có nhũng thay đổi rõ rệt, từ một nền kinh tế xã hội yếu kém và lạc hậu về mọi mặt, nay đang trên đà phát triển không ngừng vói việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với gần 170 quốc gia và tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế của thế giới. Thành công này là kết quả tất yếu của việc phát huy nội lực kết hợp với việc tranh thủ mọi nguồn lực, cơ hội từ các nước khác, trong đó không thể không kể đến vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ).
Luật đầu tư nước ngoài ban hành và thực hiện ở Việt Nam đã được hơn 10 năm (Luật này được ban hành và có hiệu lực từ tháng 12/1987). Suốt trong thời gian này, FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta, đóng góp tích cực và ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Là một nhân tố góp phần vào thành công cuỉa công cuộc đổi mới nền kinh tế. Với tốc độ phát triển đến chóng mặt của nền kinh tế toàn cầu, để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cũng như để tiếp thu và vận dụng có hiệu quả cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thì trước tiên chúng ta cần tập trung được một nguồn vốn lớn trong tay. Mặt khác, ta biết rằng, nguồn vốn có được ở trong nước và nguồn vốn FDI ngày càng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời nó cũng đáp ứng yêu cầu mở cửa và hợp tác liên doanh giữa các cơ sở sản xuất trong nước và các tổ chức kinh tế doanh nghiệp nước ngoài. Để đánh giá một cách đầy đủ hơn về vai trò của FDI cũng như những hạn chế nhất định của nó, hơn thế nữa, để có những chủ trương, giải pháp đúng đắn cho phương hướng thu hút FDI trong thời gian tới thì cần thiết phải nhìn nhận lại thực trạng hoạt động của FDI trong những năm qua.

I. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI (FDI ):
1. Đối với quá trình toàn cầu hoá:
Có thể nói, mối quan hệ giữa quá trình toàn cầu hoá với việc đầu tư trựuc tiếp của nước ngoài là một mối quan hệ hai chiều và gắn bó; chúng là cơ sở, đồng thời là mục tiêu hướng tới của nhau.
1.1. Về vai trò của FDI đối với quá trình toàn cầu hoá:
a, Trước tiên, FDI là một trong những yếu tố năng động nhất trong luồng các nguồn lực quốc tế đang tăng lên đối với các nước đang phát triển. Các Công ty triển khai chúng (gọi là các Công ty xuyên quốc gia - TNCS) hiện đang là nhân tố quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
Các TNC có thể ảnh hưởng đến sự phát triển thông qua khuyến khích đầu tư trong nước, thông qua tiến hành hoạt động thương mại và chuyển giao kiến thức, kỹ năng và công nghệ. Tuy nhiên, các TNC không thể thay thế cho những nỗ lực trong nước. Chúng chỉ có thể cung cấp những cách tiếp cận tài sản hữu hình và vô hình và là chất xúc tác cho đầu tư và các năng lực trong nước. Trong một thế giới của sự cạnh tranh khốc liệt và những thay đổi công nghệ nhanh chóng, vai trò động viên và xúc tiến này có thể là rất quan trọng. Bởi vì, toàn cầu hoá có những nguy hiểm của nó, các nước cần phải chuẩn bị những năng lực riêng để khai thác những tiềm năng của mình, bao gồm cả việc thông qua FDI .
b, FDI làm thu hẹp không gian kinh tế và thay đổi các điều kiện cạnh tranh:
Sự tiến bộ kỹ thuật trong ngành vận tải và thông tin đã làm cho không gian kinh tế co lại đáng kể. Các nước ngày nay phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp và ác liệt hơn bao giờ hết. Điều này dẫn tới một sự tái cấu trúc mạnh mẽ những lợi thế so sánh và hành động của họ.
Bản chất của cạnh tranh là tự nó là một sự thay đổi với sự xuất hiện nhanh chóng các sản phẩm mới, chu kì sản phẩm ngắn hơn, tính kịp thời của việc đáp ứng nhu cầu và sự tác động lẫn nhau giữa các khách hàng trở nên quan trọng hơn các dạng truyền thống của sự cạnh tranh dựa trên chi phí thấp. Ở tầm doanh nghiệp , điều này đòi hỏi các kĩ năng quản lý và các dạng tổ chức mới. Ở tầm quốc gia nó đòi hỏi các nước phải mở cửa nhiều hơn đối với các luồng thông tin quốc tế để phát triển các năng lực quốc gia nhằm hấp thụ và sử dụng các thông tin này, để phát triển các kĩ năng mới, các định chế và năng lực sáng tạo mới.
c, Các nước đều coi FDI là một nguồn vốn ổn định hơn so với vốn ngắn hạn và có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đồng thời là nguồn chuyển giao công nghệ chính yếu cho các nứoc tiếp nhận. Việc gia tăng nguồn đầu tư sẽ góp phần khắc phục khủng hoảng và giúp các nước bị ảnh hưởng nhanh chóng phục hồi. Đây cũng là nguyên nhân làm cho cuộc đua tranh giành lấy nguồn vốn FDI giữa các nước trở nên gay gắt, quyết liệt.
d, Từ vài thập niên trở lại đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần không nhỏ trong quá trình tăng trưởng của nhiều nước, trong đó có cả sự thần kì Châu Á. Sự bùng nổ của đầu tư và thương mại ở tất cả các vùng trên thế giới trong mấy năm gần đây là nhân tố chính góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế ngày một lan rộng. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã trở thành một điểm sáng trên bản đồ phân bổ đầu tư của thế giới với nhiều lợi thế về lao động, nguồn lực mà các nhà đầu tư coi là rất có triển vọng và đặt nhiều niềm tin.
1.2. Đồng thời, toàn cầu hoá cũng là một nguyên nhân thúc đẩy đầu tư trực tiếp, mà nòng cốt là các TNCs, MNCs của rất nhiều quốc gia khác nhau. Đấy là vì:
a, Đằng sau những sự tăng trưởng kinh tế (được coi là mục tiêu hàng đầu) là quá trình hợp nhất, thôn tính và tư nhân hoá tăng lên nhanh chóng. Các quốc gia đều có nỗ lực riêng để thu hút đầu tư . Xu hướng chung là cải thiện môi trường đầu tư theo hướng thông thoáng hơn, mềm dẻo hơn. Theo UNCTAD, trong năm 1997, 89% trong số 151 điểm thay đổi thể lệ về FDI ở 76 nước là theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư nước ngoài.
Các nước có tỷ lệ thu hút đầu tư lớn vẫn sẽ là các nước công nghiệp phát triển với khoảng 2/3 tổng số vốn đầu tư , mà chủ yếu thông qua sự hợp nhất của các TNC. Các nền kinh tế mới nổi và đang chuyển đổi sẽ tiếp tục gia tăng được lượng đầu tư tiếp nhận, Mỹ - La tinh và Châu Phi sẽ là nơi dự báo sẽ tiến bộ hơn cả.


Xem Thêm: Sự cần thiết khách quan thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Sự cần thiết khách quan thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) sẽ giúp ích cho bạn.