Đề tài: Thực trạng đầu tư thức ăn gia súc ở Cty nông sản bắc ninh giai đoạn 1997 – 2002


CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
I- Lý luận chung về đầu tư
1.1 Đầu tư là gì?

Thuật ngữ “đầu tư ” có thể được hiểu đồng nghĩa với “sự bỏ ra”, “sự hi sinh”. Từ đó, có thể coi “đầu tư ” là sự bỏ ra, sự hi sinh những cái gì đó ở hiện tại ( tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai.

Tất cả những hành động bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động đều nhằm mục đích chung là thu được lợi ích nào đó ( về tài chính , về cơ sở vật chất, về nâng cao trình độ, bổ sung kiến thức .) trong tương lai, lớn hơn những chi phí đã bỏ ra. Và vì vậy, nếu xem xét trên giác độ từng cá nhân hoặc đơn vị đã bỏ tiền ra thì các hành động này đều được gọi là đầu tư .
Nguồn lực dùng để đầu tư bao gồm : vốn, lao động, đất đai, công nghệ, các nguồn lực này được kết hợp với nhau và đưa vào trong quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm tạo ra các tài sản vật chất, phi vật chất. Kết quả của hoạt động dầu tư phải cao hơn những chi phí đã bỏ ra.

Về mặt thời gian hoạt động đầu tư diễn ra ở hiện tại và kết quả từ hoạt động này ở trong tương lai, đối tượng đầu tư thì rất rộng bao gồm cả tài sản vật chất, tài sản phi vật chất, đầu tư vào TSCĐ của xã hội và tài sản lâu bền.

Ngoài cách định nghĩa trên thì còn rất nhiều khái niệm đầu tư khác nữa tuỳ theo góc độ người xem xét. Chẳng hạn đầu tư đứng trên giác độ nền kinh tế là sự hi sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế. Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện có giữa các cá nhân, các tổ chức không phải là đầu tư đối với nền kinh tế. Còn ở góc độ tiêu dùng thì đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùg ở hiện tại nhằm thu hút được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai. Hoặc đầu tư ở trên góc độ tài chính là một chuỗi những hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời.

1.2 Vai trò của đầu tư
1.2.1 Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước

*Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế
Về mặt cầu : Đầu tư là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế ( từ 24 – 28% ). Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư làm cho tổng cầu tăng, kéo theo sản lượng cân bằng tăng theo và dẫn đến giá và các đầu vào của đầu tư cũng tăng theo.
Về mặt cung : Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm. Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mìh lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
*Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
Với việc tăng đầu tư sẽ tăng công ăn việc làmdẫn đến giảm thất nghiệp, nâng cao đời sống của nhân dân, do đó góp phần làm giảm tệ nạn xã hội .Nhưng bên cạnh dó thì do tăng đầu tư nộp tiền chi ra nhiều dẫn đến lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực xã hội.
Giảm đầu tư : hạn chế được lạm phát, đời sống nhân dân ổn định, nhưng việc đầu tư ngược lại cũng làm giảm công ăn việc làm, tình trạng thất nghiệp tăng, làm ảnh hưởng tiêu cực xã hội.
*Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy : muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bìmh thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 – 25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước.
Hệ số ICOR lầ hệ số giữa tỷ lệ vốn đầu tư xã hội so với GDP chia cho tốc độ tăng trưởng GDP
ICOR = Vốn đầu tư
Mức tăng GDP
Từ đó suy ra:
Mức tăng GDP = Vốn đầu tư
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư
Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5 – 7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn dược sử dụng nhiều để thay thế lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển ICOR thấp từ 2 – 3 do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ. Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhièu nhân tố, thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước.
ở Việt Nam tính bình quân giai đoạn ( 1995 – 1999 ) thì tỷ lệ vốn đầu tư xã hội so với GDP đạt 28,2% tốc độ tăng trưởng GDP theo giá so sánh là 7,5% và hệ số ICOR là 3,8 lần.
*Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn ( từ 9 đến 10% ) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5 – 6% là râtds khó khăn. Như vậy, chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị, . của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
*Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ đất nước
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay.Công nghệ về nội dung gồm 4 yếu tố : trang thiết bị, kỹ năng của con người, thông tin, tổ chức thể chế. Do đó xét về nội dung thì để tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước cần phải đầu tư mua sắm trang thiết bị, thu thập thông tin, đào tạo nguồn nhân lực .
Xét về phương thức để có công nghệ chúng ta cũng thấy có hai cách đó là tự nghiên cứu triển khai hoặc đi mua, cả hai cách đều phải yêu cầu có vốn để đầu tư .


Xem Thêm: Thực trạng đầu tư thức ăn gia súc ở công ty nông sản bắc ninh giai đoạn 1997 – 2002
Nội dung trên chỉ thể hiện một phần hoặc nhiều phần trích dẫn. Để có thể xem đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng tài liệu, bạn vui lòng tải tài liệu. Hy vọng tài liệu Thực trạng đầu tư thức ăn gia súc ở công ty nông sản bắc ninh giai đoạn 1997 – 2002 sẽ giúp ích cho bạn.